Chuyến đi biển định mệnh
Mờ sáng 18.11.2012, cơn bão tới nhanh hơn Salvador Alvarenga tưởng. Anh đứng trên con tàu cá của mình, cố quên đi thực tế rằng nước đang ngập dần lên mắt cá chân. Một người đi biển thiếu kinh nghiệm hẳn sẽ hoảng loạn, nhưng Alvarenga là người rất giàu kinh nghiệm nên anh tìm cách xoay tàu nương theo sóng để vào bờ, vốn cách tàu anh tới 70km.
Alvarenga định ra khơi cùng bạn chài thân thiết Ray Perez, nhưng do có việc bận nên Perez không thể lên đường vào phút chót. Thay thế anh là Córdoba, một cậu trai 22 tuổi giỏi đá bóng hơn là đi biển. Alvarenga và Córdoba chưa từng tiếp xúc với nhau trước đó.
Trong cơn bão, khi Alvarenga căng thẳng lái tàu, Córdoba nhanh chóng mất tinh thần. Đã có lúc cậu ngừng tát nước, ôm chặt lấy đai thép chạy dọc thân tàu, vừa nôn vừa khóc. Cậu đồng ý ra biển với hy vọng kiếm nhanh 50 USD bỏ túi sau vài ngày, không nghĩ rằng việc này sẽ khiến mình phải trải qua một hành trình khốn khổ và nguy hiểm như thế.
Alvarenga vẫn bình tĩnh tìm hướng. Khoảng 9h sáng, anh thấy hình bóng một ngọn núi vươn lên ở đường chân trời nên đã xoay tàu hướng về đó và ước lượng rằng cả hai chỉ cách bờ chừng 2 giờ chạy tàu. Nhưng đó là khi động cơ kêu lên ằng ặc rồi tắt lịm. Anh vớ lấy radio liên lạc với đất liền, báo rằng động cơ đã hỏng, thiết bị GPS không hoạt động và tàu cũng chẳng còn mỏ neo. Phía đất liền cũng chỉ biết hứa ra đón anh.
Nhận thấy con tàu có xu hướng nặng phần trên nhẹ dưới, Alvarenga quyết định vứt bỏ 500kg cá mà hai người bắt được. Tiếp đó họ ném hết chỗ đá và xả luôn xăng xuống biển. Alvarenga buộc lưới vào 50 chiếc phao và ném nó về phía sau con tàu, qua đó tạo ra một chiếc mỏ neo tạm, mang tới chút ổn định cho con tàu. Nhưng tới 10h sáng hôm đó, thiết bị liên lạc vô tuyến ngừng hoạt động. Sau khi đã hỏng thiết bị GPS và động cơ, việc mất thiết bị liên lạc khiến cả hai ngư dân hiểu rằng họ đã đơn độc một mình trên biển khơi.
Uống nước tiểu, máu rùa để sống sót
Khi mặt trời lặn trong ngày hôm đó, cơn bão cũng dần tan. Nhưng gió mạnh thổi từ bờ ra đã đẩy con tàu của họ ra xa bờ hơn. Có phải họ đã bị đẩy tới điểm đánh cá, hay đang trên đường tới Panama? Do chỉ còn các ngôi sao dẫn đường, họ cũng mất phương hướng và cách thức đo đạc khoảng cách
thông thường.
Không còn mồi câu và lưỡi câu bị sóng đánh mất sạch, nhưng Alvarenga vẫn quyết tâm bắt cá. Anh quỳ dọc theo một bên thành con tàu, mắt mở to canh chừng cá mập rồi nhúng tay xuống nước cho ngập tới tận vai.
Đè ngực áp vào thành tàu, anh giữ yên đôi tay của mình dưới nước, với hai bàn tay cách nhau chỉ vài phân. Khi một con cá bơi ngang qua giữa hai bàn tay, anh sẽ chụp lấy, bấm móng tay vào vẩy cá. Nhiều con đã thoát khỏi cú chụp của Alvarenga, nhưng rồi anh nhanh chóng làm chủ chiến thuật mới và bắt đầu tóm được cá. Anh ném chúng lên tàu, trong khi Córdoba dùng dao làm sạch rồi thái cá một cách điệu nghệ thành những mảnh dày bằng một ngón tay rồi để cho khô dưới ánh sáng
mặt trời.
![]() |
| Con tàu đánh cá cỡ nhỏ của Alvarenga |
Cùng nhau họ ăn cá để sống sót. Alvarenga nhét cá sống và thịt khô vào miệng cùng lúc, chẳng nhận ra được nhiều sự khác biệt về vị. Thi thoảng may mắn hai người lại bắt được một con rùa để “cải thiện” và quan trọng là uống máu nó để tránh khát.
Chỉ sau vài ngày, Alvarenga bắt đầu phải uống nước tiểu của chính mình, khi nước ngọt trên tàu cạn sạch. Anh khuyến khích Córdoba làm theo. Nước tiểu mặn chát, nhưng uống một lúc thì cũng không quá đỗi khủng khiếp. Cứ như thế Alvarenga lặp đi lặp lại vòng tròn tè ra rồi lại uống vào. Anh nghĩ rằng việc này có thể làm giảm tối đa tình trạng mất nước của cơ thể, dù thực tế thì nó chỉ làm tình hình tệ đi.
Alvarenga đã biết từ lâu về mối nguy hiểm của việc uống nước biển. Vì thế, dù rất thèm nước, anh và Córdoba vẫn không dám uống ngụm nào thứ nước mặn bất tận có rất nhiều xung quanh mình.
Dần dần thì cá cũng bắt được ít đi. “Tôi đói tới mức đã gặm cả móng tay mình và nuốt chửng từng mảnh nhỏ” - Alvarenga kể lại sau này. Anh cũng tóm lấy những con sứa rồi nuốt chửng chúng. “Sứa khiến phía trên cổ họng tôi bỏng cháy, nhưng rồi cảm giác cũng không tệ lắm” - anh nói.
Sau 14 ngày lênh đênh trên biển, Alvarenga đang nghỉ trong thùng trữ lạnh khi anh nghe thấy tiếng mưa rơi. Anh hét tướng lên báo cho Córdoba biết và cùng nhau hai người nhanh chóng lắp một hệ thống hứng nước mưa mà Alvarenga đã thiết kế ra cách nay một tuần. Córdoba lôi ra một cái xô 20 lít và đặt miệng nó hướng lên trời. Rồi cả hai người há miệng, ngửa cổ đón lấy những giọt nước mát lành, sau nhiều ngày phải uống nước tiểu và máu rùa. Sau một giờ, cái xô đã hứng được 5cm, rồi 10cm nước. Hai con người khốn khổ khoái trá cười lớn rồi uống nước ừng ực sau mỗi vài phút.
Nhưng rồi họ nhận ra thực tế rằng trời không thể mưa mãi nên quyết định ngừng lại, đồng thời nhắc nhau tuân thủ chặt việc uống cầm chừng. Dù vậy, nước vẫn cạn dần sau nhiều tuần hai người lênh đênh trên biển.
Theo thời gian, Alvarenga và Córdoba trở thành những người thu gom rác biển thành thạo, biết phân biệt đủ loại nhựa trôi nổi trên biển. Họ tóm lấy và tích trữ mọi chai nhựa tìm
thấy được.
Có lần họ vớ được một túi rác màu xanh. Hai người rú lên khi bên trong có một miếng kẹo caosu ai đó đã dùng rồi. Họ chia đôi miếng kẹo rồi khoan khoái thưởng thức.
Phía dưới đáy chiếc túi, họ tìm thấy một nửa chiếc bắp cải ủng, vài củ cà rốt đã biến màu và nửa hộp sữa hỏng, nhưng vẫn uống cạn. Hai món rau củ kể trên là những thức ăn “tươi” đầu tiên của hai người trong một thời gian dài nên họ chậm rãi thưởng thức từng miếng một.
Khi thức ăn dự trữ có nhiều và đặc biệt là sau mỗi lần ăn thịt rùa, Córdoba cùng Alvarenga thường cảm thấy chút thư thái trong khung cảnh biển cả mênh mông kỳ vĩ. Alvarenga nói rằng anh cùng bạn chài thường trò chuyện về cuộc sống và những người mẹ của họ.
“Chúng tôi đã kể cho nhau nghe rằng mình cư xử tồi với mẹ như thế nào. Chúng tôi tưởng tượng việc mình có thể ôm, hôn mẹ. Chúng tôi hứa sẽ làm việc chăm chỉ hơn để họ không phải đi làm nữa. Nhưng những lời hứa ấy đều quá muộn màng” - anh nói.
Những tháng ngày tuyệt vọng
Sau 2 tháng trôi dạt trên biển, Alvarenga đã dần quen với việc bắt và ăn chim biển, rùa biển. Tuy nhiên Córdoba lại bị suy giảm cả về sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Hai người ở trên cùng một con tàu, nhưng đi theo các lộ trình khác nhau.
Córdoba bắt đầu bị ốm sau khi phải ăn thịt sống quá lâu và đưa ra một quyết định sai lầm: Anh từ chối không ăn gì nữa. Anh mất dần năng lượng và khát vọng sống. Alvarenga tìm cách ép bạn chài ăn những miếng thịt chim và rùa nhỏ, nhưng Córdoba mím chặt môi. Sự tuyệt vọng khiến cơ thể anh dần ngừng hoạt động.
Trong khung cảnh ảm đạm đó, hai người đàn ông thực hiện một thỏa thuận với nhau. Nếu Córdoba còn sống, anh sẽ tới El Salvador thăm cha mẹ đẻ của Alvarenga. Người lại, nếu Alvarenga còn sống, anh sẽ tới Chiapas, Mexico, để cho mẹ Córdoba biết chuyện gì đã xảy ra, rằng anh rất xin lỗi vì không thể sống tiếp để báo đáp bà. Rồi một ngày nọ, Córdoba rên lên khó nhọc: “Tôi đang chết đây. Tôi chết tới nơi rồi”. “Đừng nghĩ thế, hãy ngủ đi một lúc” - Alvarenga trả lời khi anh nằm bên bạn chài. “Tôi mệt quá, tôi muốn uống ước” - Córdoba rên rỉ. Hơi thở của anh nặng nhọc. Alvarenga vớ lấy chai nước rồi rót vào miệng Córdoba, nhưng anh không nuốt mà lại căng người lên rồi giật giật.
Córdoba rên rỉ đau đớn, người anh gồng lên cứng đơ. Thốt nhiên Alvarenga thấy hoảng sợ. Anh hét lớn vào mặt Córdoba: “Đừng bỏ tôi một mình! Anh phải cố sống sót. Tôi sẽ làm gì ngoài này khi chỉ có một mình?”. Để đối mặt với khả năng mất đi người bạn chài, Alvarenga giả vờ như Córdoba sẽ không sao. “Anh cảm thấy thế nào rồi?” - Alvarenga hỏi Córdoba, lúc này thân thể đã bắt đầu lạnh dần. Córdoba không trả lời. Chỉ ít phút sau anh qua đời với đôi mắt mở trừng trừng. Alvarenga đã khóc như mưa trong suốt mấy giờ sau đó.
Alvarenga quyết định để cái xác của Córdoba ở trên tàu thay vì vứt xuống biển. Hằng ngày anh dậy sớm, hỏi han cái xác của bạn chài xấu số rồi tự trả lời các câu hỏi của mình. Thế rồi 6 ngày sau cái chết của Córdoba, Alvarenga chợt bừng tỉnh và bị sốc khi thấy mình đang nói chuyện với một tử thi. Không muốn tâm trí của mình bị bấn loạn thêm, anh cởi bỏ quần áo khỏi người Córdoba, rửa chân cho bạn chài rồi đẩy thi thể xuống biển. “Khi thấy cậu ấy chìm dần xuống nước, tôi đã ngất xỉu” - Alvarenga kể.
Khi tỉnh giấc chỉ vài phút sau đó, Alvarenga kinh hoảng với hàng loạt câu hỏi: “Tôi sẽ làm gì đây khi chỉ còn một mình? Khi không còn ai để nói chuyện? Tại sao cậu ấy lại là người phải chết thay vì tôi?”. Nhưng anh không muốn tự sát để thoát khỏi cảnh khổ sở, bởi mẹ đẻ dạy rằng những ai làm thế sẽ không được lên thiên đàng. Anh bèn tiếp tục cuộc sinh tồn như trước đây, đồng thời hằng ngày ngóng về đường chân trời để xem có con tàu nào chạy gần mình không.
Trong suốt thời gian trôi dạt trên biển, Alvarenga nói rằng anh đã thấy hàng chục con tàu, thường là tàu container to lớn. Mỗi lần nhìn thấy tàu, tim Alvarenga lại rộn lên sung sướng. Nhưng các con tàu luôn đi theo hướng khác, không bao giờ rẽ qua chỗ anh.
Chán nản nhưng không tuyệt vọng, Alvarenga để trí tưởng tượng bay xa. Anh thường mơ tới ngày mình lên đất liền, ăn một bữa thật ngon và vui vẻ đã đời với một cô em xinh đẹp.
Mỗi buổi sáng, anh đi lòng vòng trên con tàu cá và nghĩ tới việc mình sẽ làm gì nếu thoát khỏi cảnh bị mắc kẹt giữa biển khơi. “Thông qua những sự tưởng tượng như thế, tôi tin rằng mình đang làm điều tích cực, thay vì ngồi một chỗ và nghĩ về cái chết” - anh chia sẻ.
Phần thưởng cho nghị lực sống tuyệt vời
Khi còn là một cậu bé, ông nội thường dạy Alvarenga cách tính thời gian dựa theo chu kỳ trăng tròn. Một mình đơn độc trên biển, Alvarenga không biết bao nhiêu tháng đã trôi qua. Nhưng anh nhớ rõ rằng đã thấy tổng cộng 15 lần trăng tròn.
Một buổi sáng, Alvarenga nằm trên tàu và bắt đầu tin rằng đích tới của mình sẽ là thiên đường khi đột nhiên chim biển bay đầy trên đầu anh. Alvarenga chăm chú nhìn theo những con chim và rồi sững người khi thấy một hòn đảo nhiệt đới xuất hiện sau lớp sương mỏng.
Liệu đây có phải ảo giác, hay lời cầu nguyện lâu nay của Alvarenga đã ứng nghiệm? Alvarenga không có thời gian suy nghĩ nhiều về điều này mà tính ngay tới các kịch bản thực tế. Bất cứ lúc nào gió có thể thổi anh rời xa đất liền thêm một lần nữa. Anh nhìn vào đất liền và thấy đó là một hòn đảo nhỏ, không lớn hơn một sân bóng đá. Trông nó có vẻ hoang sơ, không có xe cộ và nhà cửa.
Anh bèn dùng dao cắt bỏ những chiếc phao đã đóng vai trò mỏ neo tạm lâu nay. Đó là hành động mạo hiểm. Trên biển lớn, nếu không có mỏ neo tạm kia, con tàu sẽ rất dễ lật úp nếu gặp bão. Nhưng Alvarenga đã thấy bờ ở rất gần nên muốn con tàu nhẹ hơn để vào bờ nhanh hơn.
Trong khoảng 1 giờ đồng hồ, anh trôi dạt rất gần bãi biển của đảo. Thế rồi khi còn cách bờ chừng 10m, Alvarenga nhảy ào xuống nước rồi bơi “như một con rùa”, cho tới khi một con sóng lớn hất anh lên bờ cát. “Tôi giơ tay túm lấy một nắm cát lớn, như thể đó là kho báu quý giá nhất” - anh kể lại với phóng viên Guardian sau này.
Khi ấy, Alvarenga không hề biết rằng anh đã trôi dạt trong 438 ngày. Từ một ngư dân cường tráng, anh chỉ còn lại da bọc xương, vô cùng yếu ớt. “Thứ duy nhất còn lại trên cơ thể tôi là ruột gan, da và xương. Tay tôi không còn thịt. Đôi chân của tôi gầy nhẳng, xấu xí” - anh kể.
Alvarenga đã dạt lên đảo Tile thuộc cụm đảo Ebon hẻo lánh ở quốc đảo Marshall. Không lâu sau khi lên đảo, anh được một cặp vợ chồng ngư dân cứu giúp. Anh hồi phục sức khỏe tại đây trước khi trở về quê hương El Salvador.
Cuộc sống trên đất liền không dễ dàng với Alvarenga. Trong nhiều tháng anh vẫn bị sốc vì còn sống. Anh bị mắc chứng sợ biển và sợ nước. Anh ngủ với đèn bật sáng và thường xuyên cần có người bên cạnh. Nhưng anh vẫn nhớ lời hứa với Córdoba. Ngay sau khi đủ sức khỏe, anh bay tới Mexico để gặp mẹ Córdoba và trả lời mọi câu hỏi của bà.
Phải tới một năm kể từ khi dạt vào bờ, Alvarenga mới nhìn lại bản đồ để xem hành trình mình đã trải qua. Trong 438 ngày, anh sống cận kề ranh giới của sự điên loạn. “Tôi chịu đói, khát và cô đơn cùng cực, nhưng vẫn không tự sát” - Alvarenga nói - “Ta chỉ có thể sống một lần trong đời nên hãy trân quý cuộc sống”.
