Từ làng quê hay trên từng con phố, trước mỗi ngôi nhà, đâu đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay.
Quốc kỳ sừng sững giữa nắng tháng Tư sáng hơn, vững chãi hơn, như đang cùng người dân hân hoan chào đón “Ngày giải phóng yêu thương”. Tôi đi giữa dòng người, lòng bồi hồi một cảm xúc khó tả. Đó là niềm tự hào, là sự biết ơn, và cũng là khoảng lặng để nhìn lại chặng đường dài của dân tộc đã đi qua, để thấy lá cờ hôm nay tung bay trên bầu trời tự do là kết tinh từ máu xương của biết bao thế hệ.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là những trang sử vàng được viết nên bằng ý chí kiên cường và lòng yêu nước bất diệt. Nhớ về những năm tháng trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang vọng non sông: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Đó là hình ảnh cả một dân tộc đồng lòng đứng lên với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” mà Bác Hồ từng viết trong thư gửi các chiến sĩ cảm tử quân Trung đoàn Thủ đô ngày 27/1/1947. Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là đỉnh cao của trí tuệ và ý chí Việt Nam, là bản anh hùng ca bất diệt dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Nhà nước và Tổng tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Niềm vui độc lập chưa được bao lâu, đất nước lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh tàn khốc nhất của đế quốc Mỹ. Hai mươi mốt năm chống Mỹ là hai mươi mốt năm của những mất mát, hy sinh. Những cánh rừng Trường Sơn bạt ngàn xanh thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt của những chiến sĩ anh dũng, thanh niên xung phong…
Đó là chiến dịch Ấp Bắc (1/1963): Chiến thắng gây tiếng vang, chứng minh khả năng đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ. Chiến dịch Bình Giã (12/1964 - 1/1965): Phá vỡ thế chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, gây thiệt hại nặng cho quân đội Sài Gòn. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972): Đánh bại cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.
Chiến dịch Tây Nguyên (3 - 4/1975): Chiến dịch mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975. Mỗi bước đi lên của dân tộc đều ghi dấu ấn của những vị tướng tài ba và hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống. Họ ra đi, để lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường, để lại mẹ già, vợ trẻ, con thơ nơi hậu phương, tất cả vì một niềm tin “miền Nam trong trái tim tôi”.
Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27/1/1973 đã đánh dấu bước thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, buộc Mỹ phải rút quân về nước. Trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris (1968 - 1973), khi phóng viên quốc tế phỏng vấn, nhà ngoại giao - Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình đã trả lời sắc sảo: “Người Mỹ có thể lên Mặt trăng và trở về an toàn. Còn sang Việt Nam, thì chúng tôi không chắc!”.
Đúng vậy, lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên một dân tộc kiên cường, bất khuất, một lòng một dạ vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Kẻ thù nào dù hùng mạnh đến đâu cũng không thể khuất phục được ý chí sắt đá ấy.
Và rồi, mùa Xuân năm 1975 đã đến. Chiến dịch Hồ Chí Minh, mang tên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc bắt đầu. Như một cơn lũ thần tốc, như sức mạnh của toàn dân tộc hợp lại, những đoàn quân giải phóng từ 5 cánh quân ào ạt tiến vào Sài Gòn.
Những xe tăng húc đổ cánh cửa thép của Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 đã trở thành biểu tượng bất hủ cho sức mạnh chính nghĩa, cho khát vọng thống nhất non sông. Khoảnh khắc lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, cả dân tộc vỡ òa trong nước mắt và niềm hạnh phúc.
Núi sông thu về một mối, Bắc Nam sum họp một nhà. Bác Hồ kính yêu, người đã ra đi trước ngày toàn thắng không lâu, nhưng tư tưởng và di chúc thiêng liêng của Người vẫn luôn soi sáng con đường cách mạng. Người từng nói: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Câu nói ấy đã thấm sâu vào máu thịt của mỗi người dân Việt Nam, trở thành chân lý của mọi cuộc cách mạng.
Hôm nay, thế hệ chúng tôi được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, độc lập. Chúng tôi chỉ biết về chiến tranh khốc liệt qua những trang sách, những thước phim tài liệu, những câu chuyện kể của ông bà, cha mẹ…
Nhưng khi nhìn về những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, bảo vệ hòa bình cho dân tộc, cho Tổ quốc là lòng chúng tôi lại rộn lên một cảm xúc khó tả: Ngưỡng mộ và biết ơn. Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay phải luôn ghi nhớ công ơn của các thế hệ cha ông đã đi trước.
Phải hiểu rằng, màu cờ đỏ sao vàng đang tung bay kia, hòa bình và độc lập chúng ta đang thụ hưởng hôm nay được đánh đổi bằng biết bao xương máu, nước mắt và cả tuổi thanh xuân của hàng triệu người con anh dũng. Chúng ta cần ra sức học tập, lao động, sáng tạo để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Đồng thời, phải luôn tỉnh táo, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ các thế lực thù địch. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc là nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mỗi công dân Việt Nam. Đặc biệt là thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.