Xung quanh những vấn đề lớn của ngành giáo dục hiện nay, cũng như các định hướng, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn.
---
PV: Thưa Bộ trưởng, trên cương vị là người đứng đầu ngành, Bộ trưởng nhìn nhận đâu là những vấn đề cấp bách nhất của giáo dục hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu đổi mới ngày càng cao?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Những điểm nghẽn, hạn chế lớn của ngành giáo dục đã được chỉ ra trong các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 71. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển mới, có thể tập trung vào bốn vấn đề cấp bách.
Thứ nhất, một yêu cầu rất cấp bách là mở rộng cơ hội học tập, bảo đảm tiếp cận giáo dục công bằng và có chất lượng cho mọi người dân. Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao dân trí mà còn là nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành thế hệ công dân mới, công dân toàn cầu.
Vì vậy, cần tạo điều kiện tối đa để học sinh được học, tiến tới phổ cập giáo dục phổ thông và các trình độ tương đương, như trung học nghề. Điều này không chỉ góp phần phát triển con người toàn diện, chuẩn bị nguồn nhân lực mà còn giúp giải quyết một số vấn đề xã hội như áp lực thi cử, dạy thêm, học thêm. Khi cơ hội tiếp cận giáo dục được mở rộng, áp lực thi cử sẽ giảm, qua đó các hiện tượng liên quan cũng từng bước được khắc phục.
Thứ hai, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu tăng nhanh năng suất lao động. Trong bối cảnh nguồn lực con người trở thành yếu tố cốt lõi của phát triển, khoa học công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, đang tạo ra những thay đổi lớn về cơ cấu việc làm và yêu cầu kỹ năng.
Do đó, không chỉ đào tạo mới mà còn phải đẩy mạnh đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động quy mô lớn, bao gồm cả những người chưa qua đào tạo bài bản và những người cần chuyển đổi nghề nghiệp, nhằm thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thị trường lao động.
Thứ ba, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các cơ sở giáo dục đại học cần đóng vai trò nòng cốt, không chỉ tạo ra tri thức mới thông qua các công trình khoa học mà còn phải chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp, đóng góp trực tiếp vào giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Thứ tư, đưa hệ thống giáo dục vận hành theo hướng thực chất, từ dạy, học đến kiểm tra, đánh giá; bảo đảm đánh giá đúng kết quả học tập của người học và kết quả nghiên cứu. Đồng thời, giảm yếu tố hình thức, giảm áp lực không cần thiết cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý. Mục tiêu là hướng tới chất lượng thực trong toàn hệ thống, để việc dạy, học, thi và năng lực của người học, người tốt nghiệp được phản ánh đúng thực chất.
Trên tinh thần đó, toàn ngành cần tăng cường đoàn kết, thống nhất, triển khai mạnh mẽ các giải pháp, hướng tới kết quả thực chất trong thời gian tới.
PV: Từ những thực tiễn Bộ trưởng vừa nêu, trong nhiệm kỳ này, ngành giáo dục sẽ tập trung vào những trọng tâm công tác nào và đâu là những nội dung cần tạo chuyển biến rõ nét, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71, Chính phủ cũng đã có chương trình hành động với các giải pháp và lộ trình cụ thể. Trên cơ sở đó, ngành giáo dục xác định một số trọng tâm lớn cần tập trung triển khai trong thời gian tới.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, từ phòng học đến phòng thí nghiệm, ở tất cả các cấp học, từ phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học. Đồng thời, phát triển hạ tầng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, tạo môi trường học tập, nghiên cứu thuận lợi cho người học và đội ngũ giảng viên.
Đây là yêu cầu cấp bách và là điều kiện tiên quyết để mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng. Khi mạng lưới trường lớp được bố trí hợp lý, thuận tiện cho người học, và các phòng học, phòng thí nghiệm được đầu tư đầy đủ, người học mới có điều kiện thực hành, trải nghiệm, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đồng thời, việc tăng cường hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm cũng là nền tảng để phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục.
Thứ hai, tiếp tục phát triển đội ngũ nhà giáo gắn với đổi mới chương trình và phương thức tổ chức giáo dục đào tạo. Trong bối cảnh mới, cần tiếp tục hoàn thiện chương trình ở các cấp học và trình độ theo hướng vừa bảo đảm nền tảng cơ bản, vừa thích ứng với những thay đổi, đồng thời tận dụng hiệu quả các công nghệ mới.
Để thực hiện được điều này, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định, không chỉ bảo đảm về số lượng mà còn phải được phát triển năng lực trong xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm.
Đồng thời, đổi mới và phát triển đội ngũ nhà giáo cũng là điều kiện để đưa hoạt động dạy, học và kiểm tra, đánh giá từng bước đi vào thực chất. Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định nhằm tạo điều kiện cho nhà giáo và nâng cao trách nhiệm của cơ sở giáo dục sẽ góp phần bảo đảm đánh giá đúng kết quả học tập của người học và chất lượng hoạt động của nhà trường.
Khi công tác đánh giá được thực hiện thực chất, hoạt động dạy và học sẽ đi vào thực chất, qua đó từng bước giảm thiểu các yếu tố hình thức trong giáo dục.
Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực để đầu tư phát triển các trung tâm xuất sắc, trung tâm đào tạo tài năng, gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là bước đi có tính đột phá. Bởi năng lực khoa học công nghệ, suy cho cùng, nằm ở con người, ở nhân tài. Vì vậy, cần gắn chặt đào tạo tài năng, đặc biệt là đào tạo sau đại học và trình độ tiến sĩ, với việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Cách tiếp cận này vừa nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ, vừa trực tiếp góp phần phát triển các công nghệ chiến lược, giải quyết những bài toán thực tiễn của đất nước.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục đào tạo, tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá.
Trước mắt, cần khẩn trương hoàn thiện hạ tầng và cơ sở dữ liệu của ngành giáo dục đào tạo, bảo đảm được cập nhật thường xuyên và kết nối, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia và các hệ thống liên quan. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành hệ thống quản trị giáo dục dựa trên dữ liệu, tạo nền tảng để ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo trong quản trị cũng như trong dạy và học.
Tiến tới, cần thúc đẩy cá nhân hóa lộ trình học tập đối với từng người học, để mỗi học sinh, sinh viên có thể học theo năng lực và nhu cầu của mình. Đây là một yêu cầu quan trọng trong đổi mới giáo dục.
Đồng thời, phát triển các nền tảng giáo dục số dùng chung cho toàn ngành, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo sự thống nhất giữa các cấp học. Các nền tảng này không chỉ hỗ trợ người học mà còn giúp đội ngũ nhà giáo thiết kế chương trình, bài giảng, học liệu phù hợp với bối cảnh mới, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục công bằng đối với các nhóm người học khác nhau.
Đó là bốn nội dung trọng tâm cần tập trung nguồn lực và cơ chế, chính sách để triển khai hiệu quả trong thời gian tới.
PV: Vậy khi xây dựng chương trình hành động thì đâu là những vấn đề khiến Bộ trưởng trăn trở nhiều nhất và điều gì sẽ chi phối các lựa chọn chính sách trong thời gian tới?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Có thể nói, điều trăn trở lớn nhất không chỉ của riêng ngành giáo dục hay cá nhân Bộ trưởng mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Giáo dục và đào tạo luôn nhận được sự quan tâm rất lớn, trong khi yêu cầu đặt ra ngày càng cao. Không chỉ phát triển con người toàn diện, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn phải thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trong khi đó, hệ thống giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ và năng lực triển khai; nguồn lực từ Nhà nước và xã hội còn hạn chế; bộ máy quản lý ở các cấp còn mỏng. Đồng thời, yêu cầu đổi mới tư duy và phương thức quản trị giáo dục trong tổng thể quản trị quốc gia cũng đặt ra rất cấp thiết. Đây chính là điều chúng tôi trăn trở: làm thế nào để đáp ứng được kỳ vọng rất cao của xã hội trong điều kiện nguồn lực và năng lực còn hạn chế.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng, trước hết ngành giáo dục cần có sự ủng hộ, chia sẻ và thấu hiểu của toàn xã hội. Những khó khăn của giáo dục không chỉ là của riêng ngành mà là của cả hệ thống, của xã hội; đồng thời, yêu cầu phát triển và trách nhiệm cũng không chỉ đặt lên ngành giáo dục, đội ngũ nhà giáo hay các nhà quản lý mà là của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là yếu tố có tính tiên quyết để ngành giáo dục có thể yên tâm triển khai các định hướng và nhiệm vụ đã đề ra.
Bên cạnh đó, cần tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn ngành, từ cơ quan quản lý các cấp đến các cơ sở giáo dục và đội ngũ nhà giáo. Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm, cần tập trung vào các nhiệm vụ lớn, sẵn sàng chia sẻ khó khăn, vượt qua những vấn đề trước mắt để thực hiện các định hướng mà Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã đề ra.
Đồng thời, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức làm giáo dục, từ cách dạy và học đến cách quản lý trong toàn ngành.
Cuối cùng, nguồn lực vẫn là yếu tố quyết định. Chúng tôi mong muốn và tin tưởng rằng các bộ, ngành và toàn hệ thống chính trị sẽ quan tâm, bố trí nguồn lực tương xứng để hoàn thiện hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất và điều kiện dạy học, qua đó giúp ngành giáo dục thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ lớn và vượt qua những thách thức trong giai đoạn tới.
Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!