Vì sao giới học thuật 'ngại' thừa nhận dùng AI?

GD&TĐ - Dù trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng phổ biến, rất ít nhà khoa học thừa nhận sử dụng công cụ này khi viết nghiên cứu.

Các nhà nghiên cứu thường thận trọng khi công khai việc sử dụng AI trong bài báo.
Các nhà nghiên cứu thường thận trọng khi công khai việc sử dụng AI trong bài báo.

Điều này đặt ra câu hỏi về sự minh bạch và các chuẩn mực học thuật mới.

Một nghiên cứu mới của các học giả tại Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, cho thấy chỉ 0,1% trong hơn 75 nghìn bài báo khoa học xuất bản từ năm 2023 công khai việc sử dụng các công cụ viết bằng AI như ChatGPT.

Con số này tương đương 76 bài báo, dù khoảng 70% tạp chí có chính sách yêu cầu hoặc hướng dẫn về việc công bố sử dụng AI. Theo các tác giả Yongyuan He và Yi Bu, cứ 40 bài có bằng chứng thống kê cho thấy khả năng đã sử dụng AI thì chỉ một bài chính thức thừa nhận điều đó.

Tỷ lệ công khai đã tăng dần theo thời gian, từ 0,01% ngay sau khi ChatGPT ra mắt cuối năm 2022 lên 0,43% vào quý I/2025. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn không tương xứng với tốc độ phổ biến của các công cụ AI hỗ trợ viết, chỉnh sửa, tìm tài liệu (LLM) trong thực tế.

Các nhà nghiên cứu cho rằng nỗi sợ bị kỳ thị có thể là một trong những nguyên nhân chính. Trong bối cảnh con người đang xây dựng chuẩn mực AI, nhiều tác giả lo ngại rằng việc thừa nhận sử dụng công cụ này sẽ khiến đóng góp trí tuệ của họ bị nghi ngờ, dẫn đến việc bị soi xét khắt khe hơn trong quá trình bình duyệt hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín cá nhân.

Thực tế cho thấy phần lớn nhà xuất bản không cấm hoàn toàn AI. Gần như tất cả trong số 5,1 nghìn tạp chí được khảo sát cho phép sử dụng AI cho mục đích viết và biên tập. Còn 63% cho phép sử dụng để kiểm tra ngôn ngữ, ngữ pháp. Tuy nhiên, sự mơ hồ về “mức độ sử dụng nào cần phải công khai” khiến nhiều tác giả chọn cách im lặng.

Trong khi đó, một nghiên cứu khác của Đại học Cornell, công bố trên tạp chí Science, cho thấy AI đang tái cấu trúc hệ sinh thái xuất bản khoa học. Nhóm nghiên cứu phân tích hơn 2 triệu bài đăng trên các nền tảng tiền ấn phẩm arXiv, bioRxiv và SSRN giai đoạn 2018 – 2024, đồng thời xây dựng công cụ phát hiện văn bản có khả năng do các công cụ AI hỗ trợ viết, chỉnh sửa, tìm tài liệu (LLM) tạo ra. Kết quả cho thấy những nhà khoa học sử dụng LLM có năng suất cao hơn đáng kể. Cụ thể, số bài nghiên cứu tăng khoảng 1/3 trên arXiv và hơn 50% trên bioRxiv và SSRN.

Lợi ích đặc biệt rõ rệt đối với các nhà khoa học không phải người bản ngữ tiếng Anh. Tại các tổ chức châu Á, số lượng bài đăng tăng từ 43% đến gần 90% sau khi chuyển sang sử dụng LLM. AI giúp họ vượt qua rào cản ngôn ngữ, cải thiện độ rõ ràng và khả năng đọc hiểu, đồng thời mở rộng phạm vi tài liệu tham khảo nhờ các công cụ tìm kiếm hỗ trợ AI.

Tuy nhiên, lợi ích về năng suất đi kèm hệ quả đáng lo ngại. Nghiên cứu của Cornell cho thấy trong khi văn bản do AI hỗ trợ có thể đạt độ phức tạp ngôn ngữ cao, những bài này lại có xác suất được chấp nhận đăng trên tạp chí thấp hơn so với các bài do con người tự viết có độ phức tạp tương tự. Điều này cho thấy sự “mất kết nối” giữa chất lượng văn bản và giá trị khoa học thực chất.

Khi ngôn ngữ trôi chảy không còn là chỉ báo đáng tin cậy cho chất lượng nghiên cứu, các biên tập viên, nhà tài trợ và nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với thách thức mới. Đó là việc đánh giá giá trị khoa học trong một môi trường mà AI có thể nâng cao hình thức nhưng không đảm bảo nội dung.

Các trường đại học và tạp chí quốc tế chưa thống nhất về cách yêu cầu khai báo sử dụng AI. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng thay vì cấm đoán, giới học thuật cần chuyển trọng tâm sang xây dựng khung minh bạch và đào tạo kỹ năng sử dụng AI có trách nhiệm.

Theo Times Higher Education

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Nhóm sinh viên giành giải Quán quân toàn quốc cuộc thi Thử thách Sáng tạo Xã hội Việt Nam VSIC 2025. Ảnh: NTCC

4D-BONDE: Hành trình lấy lại những chuyển động đã mất

GD&TĐ - Giữa nhịp sống hiện đại, khi những việc đơn giản như cầm muỗng hay viết chữ vẫn là thách thức với người khuyết tật, nhóm sinh viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) đã phát triển dự án “Bộ khớp đa năng hỗ trợ vận động”.