Tuy vậy, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn không ít điểm nghẽn. Để đưa triết lý này đi vào đời sống giáo dục, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ từ tư duy đến hành động.
Từ đổi mới tư duy đến biện pháp giáo dục
Cô giáo Đặng Thị Hiền - Trường THPT Yên Thành 2 (Quan Thành, Nghệ An), vừa ghi dấu một “chuyến đò” cập bến thành công khi lớp 12A5 do cô chủ nhiệm có hơn 90% học sinh đỗ đại học năm 2025. Đáng chú ý, hai lớp do cô trực tiếp giảng dạy môn Địa lý có tới 30 học sinh đạt điểm 10. Trong đó, lớp 12A8 thiên về khối C đạt điểm trung bình 9,32; còn lớp 12A5 dù là lớp khối D nhưng có tới 99% học sinh lựa chọn Địa lý là môn tự chọn, với điểm trung bình 9,47.
Chia sẻ về việc dạy học môn Địa lý, cô Hiền cho biết, không ít học sinh và phụ huynh vẫn có tâm lý xem đây là “môn phụ”. Chính vì vậy, để đạt kết quả tốt, theo cô, cách duy nhất là khiến học sinh thực sự yêu thích môn học, chủ động tìm hiểu kiến thức. Nếu chỉ dạy theo lối đọc – chép sách giáo khoa, học sinh rất dễ rơi vào cảm giác nhàm chán.
Để tạo hứng thú cho người học, cô Hiền lựa chọn cách gắn lý thuyết với thực tiễn, minh họa bài học bằng những ví dụ gần gũi với đời sống, đồng thời hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy và ghi nhớ các từ khóa quan trọng. “Khi đó, học sinh nhận ra giá trị của môn học để vận dụng, đồng hành trong cuộc sống, chứ không chỉ học để thi hay lấy điểm cao”, nữ giáo viên chia sẻ.
Bên cạnh các giờ học trên lớp, cô Hiền còn lập nhóm học tập trực tuyến để kịp thời giải đáp thắc mắc, động viên tinh thần và hướng dẫn kỹ năng làm bài cho học sinh. Đồng thời, cô tích cực tham gia các nhóm chuyên môn trên mạng nhằm trao đổi tài liệu, đề thi và kinh nghiệm giảng dạy, không ngừng làm mới phương pháp dạy học của mình.
“Tôi quan niệm, giáo dục càng hiện đại thì giáo viên càng phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực. Tuy nhiên, điều mà công nghệ không thể thay thế người thầy chính là tình yêu thương, trách nhiệm và sự thấu hiểu từng học trò – từ đặc điểm, năng lực đến hoàn cảnh - để đồng hành cùng các em trong suốt quá trình học tập. Đây cũng là định hướng mà nhà trường quán triệt tới mỗi giáo viên trong giáo dục học sinh”, cô Hiền chia sẻ.
Tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Trường THPT Yên Thành 2 đã vươn lên nhóm 5 trường dẫn đầu toàn tỉnh Nghệ An, tăng 13 bậc so với năm trước, dù điểm đầu vào lớp 10 chỉ đạt 11,5 - thuộc nhóm cuối trên địa bàn. Kết quả này được xem là minh chứng rõ nét cho thấy, đổi mới giáo dục nếu đi vào thực chất sẽ tạo nên những “kỳ tích”, ngay cả ở những ngôi trường còn nhiều khó khăn.
Năm học 2025 - 2026, Nghệ An tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi tỉnh lớp 9 trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với hơn 2.000 thí sinh tham gia - con số cao nhất từ trước đến nay.
Lần đầu tiên có học sinh của trường đạt giải tại kỳ thi này, ông Nguyễn Văn Thọ - Hiệu trưởng Trường PT DTBT THCS Yên Tĩnh (Nghệ An), cho rằng mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã góp phần tạo sự công bằng hơn trong tiếp cận giáo dục.
Trước đây, để được dự thi cấp tỉnh, học sinh phải vượt qua vòng sàng lọc cấp huyện, cạnh tranh với các trường dân tộc nội trú và khu vực thị trấn, khiến cơ hội của học sinh vùng sâu, vùng xa rất hạn chế. Từ thực tế này, nhà trường xác định sẽ xây dựng lại triết lý giáo dục, tầm nhìn và kế hoạch hành động, qua đó tạo động lực để giáo viên, học sinh và phụ huynh cùng nỗ lực vươn lên.
Tháo gỡ điểm nghẽn
Dù đã xuất hiện nhiều mô hình và kết quả tích cực, việc hiện thực hóa triết lý giáo dục trong thời đại số vẫn đối mặt không ít thách thức. Theo bà Tạ Thị Thanh Bình - Hiệu trưởng Trường THCS Thanh Xuân (Hà Nội), một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở tâm thế và năng lực số của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên.
Một bộ phận còn tâm lý e ngại đổi mới, chưa thực sự chủ động học tập để nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin, ứng dụng số hóa và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, giảng dạy. Vì vậy, chuyển đổi số ở nhiều nơi vẫn chưa trở thành nhu cầu tự thân mà còn mang tính phong trào.
Bên cạnh yếu tố con người, hạ tầng công nghệ cũng là thách thức không nhỏ. Ở nhiều nhà trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống mạng và dữ liệu chưa được đầu tư đồng bộ, trong khi chi phí đầu tư lớn và yêu cầu về bảo mật ngày càng cao. Những hạn chế này khiến quá trình số hóa trong quản trị và dạy học gặp nhiều rào cản.
Để triết lý giáo dục thời đại số thực sự đi vào cuộc sống, bà Bình cho rằng cần đào tạo đội ngũ một cách bài bản, không chỉ về chuyên môn mà cả thái độ tiếp cận công nghệ. Việc đầu tư trang thiết bị cũng cần bám sát nhu cầu thực tế của từng đơn vị, tránh dàn trải, lãng phí; đồng thời nên triển khai thí điểm tại những cơ sở đủ điều kiện để rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng.
“Chúng tôi mong muốn quá trình chuyển đổi số tiếp tục được Nhà nước quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường; đồng thời cử cán bộ, giáo viên, nhân viên, ưu tiên những người có trình độ công nghệ thông tin tốt, tham gia các lớp đào tạo, tập huấn để có thể vận hành hệ thống quản lý, điều hành các phần mềm dạy học, quản lý và ứng dụng AI, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị”, Hiệu trưởng Trường THCS Thanh Xuân đề xuất.
Ở góc độ quản lý, ông Hà Văn Hải - Hiệu trưởng Trường THPT Mỹ Tho (Ninh Bình), cho rằng, triết lý giáo dục thời đại số lấy người học làm trung tâm là đúng hướng, song khoảng cách giữa triết lý và thực tiễn triển khai vẫn còn khá lớn. Nguyên nhân trước hết xuất phát từ cơ chế quản lý và đánh giá hiện nay vẫn nặng về chỉ tiêu, hồ sơ và các kỳ thi chuẩn hóa, trong khi triết lý giáo dục lại nhấn mạnh tính sáng tạo, linh hoạt và cá thể hóa người học. Điều này khiến giáo viên chịu nhiều áp lực, thiếu “không gian an toàn” để mạnh dạn đổi mới.
Bên cạnh đó là những hạn chế về năng lực và tư duy sư phạm. Theo ông Hải, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc sử dụng công nghệ, mà quan trọng hơn là sự thay đổi vai trò của giáo viên, từ người truyền đạt kiến thức sang người tổ chức, dẫn dắt các hoạt động học tập. Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng ở nhiều nơi vẫn thiên về lý thuyết, thiếu sự hỗ trợ cụ thể, gắn với thực tiễn lớp học.
Để triết lý giáo dục thời đại số thực sự trở thành động lực đổi mới, ông Hải đề xuất một số định hướng then chốt. Trước hết, cần chuyển triết lý thành những yêu cầu hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện của từng nhà trường. Thay vì dừng lại ở những khẩu hiệu lớn, triết lý cần được cụ thể hóa bằng các việc làm thiết thực: mỗi tổ chuyên môn lựa chọn một nội dung đổi mới trọng tâm; mỗi giáo viên đổi mới ít nhất một hoạt động dạy học có chiều sâu; mỗi học kỳ có một sản phẩm học tập gắn với thực tiễn.
Cùng với đó, cần bắt đầu đổi mới từ công tác quản lý nhà trường, giảm bớt áp lực hành chính không cần thiết, đồng thời đổi mới cách đánh giá giáo viên theo hướng coi trọng quá trình đổi mới và mức độ tiến bộ. Chuyển đổi số cần được nhìn nhận như một công cụ phục vụ triết lý giáo dục, chứ không phải mục tiêu tự thân. Quan trọng nhất, theo Hiệu trưởng Trường THPT Mỹ Tho, học sinh phải được đặt làm “thước đo” cho hiệu quả của triết lý giáo dục thời đại số.
Giáo dục số nhân văn
Năm học 2025-2026, ngành Giáo dục Nghệ An xác định chủ đề hành động là “Hiện đại hóa, đột phá phát triển, đổi mới sáng tạo, kết nối bền vững, sẵn sàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới”.
Theo ông Thái Văn Thành - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Nghệ An, trong bối cảnh mới, ngành Giáo dục sẽ tiến hành định hình lại triết lý giáo dục của tỉnh. Trên cơ sở đó, các cơ sở giáo dục xây dựng lại chiến lược phát triển nhằm thực hiện hiệu quả 5 nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, gồm Nghị quyết 57, 59, 68, 69 và mới đây nhất là Nghị quyết 71.
Ông Thành cho biết, UBND tỉnh Nghệ An luôn dành những chính sách riêng để quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và đội ngũ giáo viên, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Về phía ngành Giáo dục, nhiệm vụ đặt ra là phát huy hiệu quả các mô hình đang triển khai, đặc biệt là mô hình bảo đảm chất lượng; đồng thời tiếp tục động viên các nhà trường và đội ngũ nhà giáo chủ động cải tiến hoạt động dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy năng khiếu, sở trường của học sinh.
Ở góc nhìn công nghệ, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), nhận định trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong toàn bộ hệ sinh thái giáo dục. AI không chỉ hỗ trợ hoạt động dạy và học mà còn tác động đến cách thức tổ chức giáo dục.
Công nghệ này cho phép cá nhân hóa việc học, xây dựng lộ trình phù hợp với năng lực và sở thích của từng người học; hỗ trợ giáo viên giảm tải công việc hành chính để tập trung nhiều hơn vào phát triển tư duy phản biện và năng lực giải quyết vấn đề; đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận kho tri thức toàn cầu, góp phần rút ngắn khoảng cách với các nền giáo dục tiên tiến.
Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Đình Đức, đưa AI vào giáo dục không đơn thuần là trang bị công cụ, mà đòi hỏi một tư duy đổi mới toàn diện, từ chương trình đào tạo, năng lực số của đội ngũ giáo viên đến các chính sách bảo đảm công bằng, đạo đức và an toàn dữ liệu. AI chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong một triết lý giáo dục khai phóng, nhân văn và hướng tới phát triển bền vững.
Thực tế cho thấy giáo dục Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của mô hình truyền thống: học để thi, thiên về ghi nhớ, thiếu gắn kết với thực tiễn và chưa khuyến khích tư duy phản biện.
Trong bối cảnh đó, GS Nguyễn Đình Đức cho rằng cần sớm xây dựng một triết lý giáo dục mới làm kim chỉ nam cho mọi chính sách và hành động. Theo ông, triết lý này phải được hình thành trên sự kết hợp chặt chẽ của ba trụ cột: giáo dục khai phóng, STEM gắn với trí tuệ nhân tạo (AI) và phát triển bền vững. Đây chính là nền tảng để kiến tạo một nền giáo dục hiện đại, nhân văn, sáng tạo và có khả năng thích ứng dài hạn trước những biến động toàn cầu.
Ở tầm vĩ mô, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Khoa học Giáo dục - nhấn mạnh rằng, trong kỷ nguyên số, triết lý giáo dục không thể chỉ dừng lại ở “dạy chữ” hay “dạy nghề”, mà phải hướng tới đào tạo những con người có trách nhiệm xã hội, nền tảng đạo đức vững vàng và bản sắc văn hóa rõ ràng.
Internet và AI có thể cung cấp vô vàn thông tin, nhưng chỉ giáo dục mới giúp người học biết phân biệt đúng - sai, lựa chọn hành động phù hợp với lương tâm và trách nhiệm công dân.
Theo GS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, giáo dục cần đi trước một bước trong việc hình thành “năng lực miễn nhiễm” trước thông tin sai lệch, bạo lực và các nội dung độc hại trên không gian mạng. Điều đó đòi hỏi xây dựng một hệ giá trị mới, dựa trên sự tôn trọng sự thật, quyền riêng tư, tinh thần đối thoại và hành xử có trách nhiệm, cả trong môi trường số lẫn đời sống thực.
Việt Nam có lợi thế lớn với truyền thống nhân nghĩa, trọng đạo lý và tinh thần cộng đồng bền chặt. Thách thức đặt ra không phải là bảo tồn các giá trị ấy trong trạng thái tĩnh, mà là làm sao để chúng được “kích hoạt” trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ hóa mạnh mẽ. Khi được đặt đúng vị trí, những giá trị truyền thống sẽ không bị lạc lõng, mà ngược lại, trở thành nền tảng giúp thế hệ trẻ hội nhập sâu rộng với thế giới mà không đánh mất bản sắc, hòa nhập nhưng không hòa tan.
Triết lý giáo dục không phải là khẩu hiệu, mà là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt trong quản lý, tổ chức và hoạt động dạy - học. Chỉ khi triết lý ấy thực sự cắm rễ vào văn hóa nhà trường, nền tảng đạo đức và thực tiễn giáo dục hằng ngày, giáo dục thời đại số mới trở thành động lực bền vững cho sự phát triển của quốc gia. - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.