Quảng Ninh tiên phong nâng chuẩn nghèo, hướng tới giảm nghèo bền vững

GD&TĐ - Không chọn lối đi dễ, Quảng Ninh chủ động nâng chuẩn nghèo cao hơn mức quốc gia, coi đây là động lực để cải thiện nhanh đời sống người dân.

Tuyên truyền chính sách giảm nghèo tới Nhân dân. (Ảnh: Hoàng Quỳnh)
Tuyên truyền chính sách giảm nghèo tới Nhân dân. (Ảnh: Hoàng Quỳnh)

Với hướng đi và cách làm đa chiều, tỉnh không chỉ “sạch nghèo” sớm theo chuẩn quốc gia mà còn tạo ra một chuẩn sống mới, hướng tới giảm nghèo bền vững.

Nâng chuẩn nghèo - bước đi “ngược dòng”

Trong khi nhiều địa phương nỗ lực hoàn thành mục tiêu giảm nghèo theo chuẩn Trung ương, Quảng Ninh lại tự đặt ra thách thức lớn hơn.

Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2023–2025 cao gấp 1,4 lần mức quốc gia2,6 triệu đồng/người/tháng khu vực đô thị và 2,1 triệu đồng/người/tháng khu vực nông thôn; hộ nghèo phải thiếu hụt ít nhất 3 dịch vụ xã hội cơ bản trở lên để xác định hộ nghèo.

Cách tiếp cận này khiến giảm nghèo không chỉ dừng ở “đủ ăn”, mà gắn liền với nâng chất lượng sống. Chính quyền và hệ thống chính trị buộc phải đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng, sinh kế, đào tạo nghề và an sinh xã hội.

Quảng Ninh không coi giảm nghèo là chương trình đơn lẻ. Tỉnh lồng ghép ba trụ cột: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với Chương trình xây dựng nông thôn mới và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) khắc phục thiếu hụt dịch vụ ở vùng sâu, vùng xa.

Nhờ đó, Quảng Ninh đạt 98/98 xã nông thôn mới (NTM) từ 2022, trong đó nhiều xã nâng cao, kiểu mẫu, tạo nền tảng để hộ nghèo tiếp cận hạ tầng và dịch vụ công.

Song song, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 20-NQ/TU (2023) đặt mục tiêu đầy thách thức, đến hết năm 2024 không còn hộ nghèo và giảm 50% hộ cận nghèo theo chuẩn tỉnh, tiến tới xóa cả hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn tỉnh vào 2025. Cơ quan, địa phương không đạt mục tiêu phải giải trình và biện pháp khắc phục.

Những kết quả vượt trội

Theo chuẩn quốc gia, từ năm 2023 Quảng Ninh không còn hộ nghèo. Trong khi tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước 2024 vẫn ở mức 4,06%, tỉnh đã nằm trong nhóm địa phương “sạch nghèo” theo chuẩn này.

Theo chuẩn nâng cao của tỉnh, năm 2023 còn 246 hộ nghèo (0,064%) và hơn 3.000 hộ cận nghèo.

Chỉ trong 8 tháng 2024, tỉnh đã giảm 226 hộ nghèo (91,86% kế hoạch năm) và hơn 1.500 hộ cận nghèo (132,58% kế hoạch). Đây là bước tiến mạnh ở nhóm cận nghèo, vốn là ‘vùng rìa” dễ tái nghèo nhất.

image003.jpg
Những căn nhà khang trang ở vùng cao Quảng Ninh ngày càng nhiều. (Ảnh TL)

Thu nhập bình quân nông thôn đạt 73,43 triệu đồng/người/năm (2023), vượt xa chuẩn quốc gia. GRDP 6 tháng đầu 2025 tăng 11,03%, cao hơn cùng kỳ 2 điểm %, tạo nguồn lực vững chắc cho chính sách an sinh. Chi ngân sách an sinh cũng tăng đều: Năm 2023 đạt 1.437 tỷ đồng; năm 2024 khoảng 1.897 tỷ đồng; 6 tháng đầu 2025 đã giải ngân 1.270 tỷ đồng cho thấy ưu tiên ngân sách bền bỉ cho giảm nghèo đa chiều.

Quảng Ninh thay vì trợ cấp ngắn hạn tập trung vào trao “cần câu”: Tín dụng chính sách, đào tạo nghề, tạo việc làm. Năm 2024, khoảng 40.000 người được đào tạo nghề ngắn hạn, gắn trực tiếp với nhu cầu doanh nghiệp trong du lịch, dịch vụ, logistics, nông nghiệp. Đây được coi là “đột phá mềm”, giúp hộ nghèo/cận nghèo tự chủ thu nhập.

Tỉnh cũng lồng ghép mục tiêu giảm nghèo vào phát triển kinh tế vùng khó. Đẩy mạnh mô hình OCOP và du lịch cộng đồng tại vùng khó, vừa cải thiện điều kiện sống, vừa tạo sinh kế ngay tại địa phương. Các sản phẩm như miến dong Bình Liêu, dược liệu Ba Chẽ, hải sản Vân Đồn… được hỗ trợ kết nối chuỗi giá trị và thương mại điện tử.

Bằng việc gắn giảm nghèo với tăng trưởng, lồng ghép đa chương trình, quản trị theo dữ liệu, Quảng Ninh không dừng ở thành tích “sạch nghèo” theo chuẩn quốc gia, tỉnh đang nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống cao hơn, hạn chế tái nghèo.

Đẩy mạnh triển khai các giải pháp

Để đạt mục tiêu 2025 không còn hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn tỉnh, Quảng Ninh triển khai 7 nhóm giải pháp:

Duy trì tiến độ giảm nghèo gắn với hệ thống “cảnh báo sớm tái nghèo”, lập danh sách hộ có nguy cơ và hỗ trợ ngắn hạn qua quỹ dự phòng tái nghèo từ ngân sách và nguồn xã hội hóa…;

Dùng “đòn bẩy tài chính” bố trí ngân sách an sinh linh hoạt, cho vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách xã hội, tăng đầu tư vào bảo hiểm y tế, nước sạch và nhà ở an toàn tại vùng DTTS&MN;

Đào tạo nghề gắn nhu cầu doanh nghiệp và chuỗi giá trị OCOP, mỗi năm khoảng 40.000 người, ưu tiên khóa ngắn hạn dưới 3 tháng, có cam kết tuyển dụng;

Hoàn thiện hạ tầng vùng dân tộc thiểu số và miền núi: Cấp nước tập trung, phủ sóng internet, xây - sửa nhà ở, lồng ghép vốn để vừa nâng chất lượng sống, vừa tạo nền tự vươn lên cho hộ nghèo;

Tăng cường truyền thông và trợ giúp pháp lý, đưa chính sách đến từng hộ qua truyền thanh, mạng xã hội, tư vấn lưu động;

Giám sát công khai bằng bảng điều khiển (dashboard) hằng quý gồm số hộ nghèo/cận nghèo, số việc làm mới, số hộ được vay vốn, số người học nghề có việc làm, tạo động lực thi đua giữa các địa phương;

Chuẩn bị cho giai đoạn “hậu nghèo” 2026 - 2030: Chuẩn hóa nhà ở, nước sạch, kỹ năng số, bảo hiểm y tế toàn dân và áp dụng bộ chỉ số bền vững thoát nghèo. Nhiều xã đặt mục tiêu thu nhập bình quân trên 120 triệu đồng/người/năm vào 2030.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ