Phương pháp chuẩn bị bài giảng lý luận chính trị quân sự

GD&TĐ - Để có một bài giảng lý luận chính trị quân sự tốt đòi hỏi mỗi giáo viên, giảng viên phải chuẩn bị công phu, khoa học, nghiêm túc, thường xuyên, lâu dài, phải chủ động hoàn thiện hệ thống kiến thức chuyên môn, kiến thức nghiệp vụ sư phạm, phong cách, văn hoá sư phạm cũng như kinh nghiệm, vốn sống của bản thân.

Phương pháp chuẩn bị bài giảng lý luận chính trị quân sự

Sáng tạo với các tình huống sư phạm

Theo Thượng tá Thạc sĩ Nguyễn Thái Bảo – Trường Đại học Chính trị (Bộ Quốc phòng) thì để có bài giảng tốt, giảng viên, giáo viên GDQP-AN phải chú trọng ngay từ những bước ban đầu. 

Gồm: Tìm hiểu tổng quát về chủ đề bài giảng; Nghiên cứu tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan; Soạn giáo án; Thông qua giáo án; Thục luyện và hoàn thiện giáo án; Trong soạn giáo án: Giáo viên phải xác định được cấu trúc, nội dung, khối lượng kiến thức từng phần, ước lượng thời gian, dự kiến số liệu, ví dụ sẽ sử dụng. 

Xác định phương pháp, phương tiện cách thức tổ chức cho từng phần, từng mục, từng đơn vị nội dung cụ thể. Dự kiến và xây dựng các tình huống sư phạm và phương hướng giải quyết.

Bài giảng lý luận chính trị quân sự thường gồm ba phần: Mở đầu, cơ bản và kết luận. Phần mở đầu (đối với mỗi bài giảng trong 2 tiết phần mở đầu thường diễn ra trong khoảng từ 5 - 7 phút), cách thức mở đầu khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí và yêu cầu của bài giảng. 

Đối với bài giảng theo kiểu thông báo thường mở đầu bằng cách: Sau khi nắm quân số, ổn định lớp học, giáo viên, giảng viên nêu lên chủ đề mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, trọng tâm tài liệu tham khảo. Với những bài giảng theo kiểu dạy học nêu vấn đề thì thường mở đầu bằng cách: Giảng viên nêu tình huống trong thực tiễn hoặc những mâu thuẫn trong lý luận và thực tiễn của môn học qua đó đề xuất vấn đề học tập và dẫn dắt người học vào nội dung bài giảng.

Trong phần nội dung của bài giảng, giáo viên, giảng viên phải tuyệt đối trung thành với giáo án đồng thời phải ứng biến linh hoạt, sáng tạo với các tình huống sư phạm trong thực tiễn. Kịp thời nắm chắc thông tin ngược và điều chỉnh hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập cho phù hợp với các tình huống diễn biến thực tiễn của buổi học.

Nằm lòng 4 kỹ năng

Phải chú ý đến một số kỹ năng cơ bản sau khi tiến hành bài giảng:

Kỹ năng nắm thông tin ngược và thu hút sự chú ý. Việc thực hiện và nắm thông tin ngược bằng cách quan sát, đánh giá thái độ và kết quả học tập của học sinh, sinh viên ngay trong giờ lên lớp, thông qua các hoạt động như: Ghi chép bài giảng, tham gia tranh luận thảo luận, giải quyết các tình huống, các bài tập...

Đồng thời với nắm thông tin phải xử lý thông tin, điều chỉnh phương pháp, nội dung và độ khó của bài giảng. Để giữ được sự chú ý của học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên phải chủ động tạo ra cơ hội cho người học tư duy và tham gia vào các hoạt động khám phá tri thức. Phải thống nhất hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình giảng. Ngoài ra cần nắm vững quy luật của các quá trình tâm lý nhận thức của người học để sử dụng các phương pháp sư phạm phù hợp.

Kỹ năng kết hợp quan sát lớp học với nhìn giáo án một cách tinh tế. Đây là kỹ năng phản ánh mức độ phát triển về nghệ thuật sư phạm của người giáo viên, giảng viên. Khi giảng bài, giáo viên, giảng viên phải luôn chú ý quan sát lớp học, bảo đảm kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát cả lớp với quan sát từng khu vực của lớp và từng cá nhân học sinh, sinh viên. Tránh quá tập trung nhìn vào giáo án để đọc các nội dung trong giáo án mà không quan sát và trình bày bài giảng bằng ngôn ngữ sinh động.

Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp với cử chỉ điệu bộ, nét mặt và biểu hiện thái độ đối với các vấn đề trình bày. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và biểu hiện nét mặt của giáo viên, giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả bài giảng. Lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ phải mang tính gợi cảm, giàu hình ảnh, có tính khoa học, nhưng phải trong sáng, rõ ràng, đơn nghĩa. Tránh khuynh hướng đơn giản hoá hoặc phức tạp hoá ngôn ngữ dẫn đến tầm thường hoá các quan điểm khoa học.

Không dùng tiếng đệm, tiếng láy, từ ngữ phản khoa học, thiếu giá trị thẩm mỹ vào bài giảng. (Tốc độ trình bày ngôn ngữ vừa phải trong khoảng từ 60 - 80 từ /phút, 100 - 110 từ là quá nhanh, 40 - 50 từ là quá chậm). Cường độ âm thanh phải điều chỉnh linh hoạt phù hợp với không gian trong lớp học, số lượng học sinh, sinh viên. 

Không nên nói giọng đều đều mà phải lựa chọn điểm nhấn, hạ giọng phù hợp với nội dung và ngữ cảnh. Cử chỉ và điệu bộ của giảng viên phải thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp. Thái độ, tình cảm của giáo viên, giảng viên phải thể hiện sinh động, sự rung động chân thực với nội dung trình bày. Tránh thái độ lãnh đạm, hoặc rung động giả tạo, thiếu nhiệt huyết. Cần có thái độ cương quyết, khách quan khi phê phán các quan điểm “trái chiều” nhưng tránh không được lên gân, “chụp mũ”.

Cuối cùng là kỹ năng sử dụng phấn bảng và phương tiện kỹ thuật dạy học. Tuỳ theo nội dung của từng bài giảng mà sử dụng phấn, bảng nhiều hay ít.. Khi viết phải lựa chọn chỗ đứng trình bày, phân chia bảng cho phù hợp với nội dung và cấu trúc của hội trường đảm bảo cho mọi học sinh, sinh viên có thể quan sát đầy đủ các nội dung mà giảng viên trình bày.

Trong phần kết luận, giáo viên, giảng viên kết luận lại nội dung bằng cách tóm tắt, nhấn mạnh những nội dung cơ bản của bài, rút ra nhận định, đánh giá chung, gợi mở cho người học những vấn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục bổ sung trong bài giảng và hướng dẫn cho người học nghiên cứu.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ