Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, nhiều địa phương vẫn gặp không ít vướng mắc đòi hỏi sự linh hoạt và hỗ trợ kịp thời từ các cấp chính quyền. Các trường học cũng đề xuất điều chỉnh một số quy định để chính sách thực sự phát huy hiệu quả.
Vướng mắc từ thực tế
Tại Trường Tiểu học và THCS xã Xốp (Quảng Ngãi), ông Trần Ngọc Mạnh – Hiệu trưởng nhà trường, cho biết, năm học 2025 - 2026 chỉ còn 75/388 học sinh được hưởng chế độ theo Nghị định 66, giảm mạnh so với 218 em của năm học trước.
Theo ông Mạnh, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc rà soát lại tiêu chí khoảng cách theo quy định mới. Những học sinh ở các thôn như Xốp Nghét, Đăk Xi Nai dù đường đi vẫn gập ghềnh, xa xôi, nhưng khoảng cách chỉ khoảng 4km nên không còn đủ điều kiện thụ hưởng chính sách. Đáng chú ý, cấp THCS của trường hiện không còn học sinh nào được hưởng hỗ trợ.
Sự thay đổi này kéo theo những xáo trộn rõ rệt. Khi không còn chế độ bán trú, nhiều em chỉ đi học buổi sáng, trưa về nhà và buổi chiều không quay lại lớp. Để duy trì sĩ số, giáo viên phải kiên trì vận động học sinh, trong khi phụ huynh phải thay nhau đưa đón con em giữa bộn bề mưu sinh – một việc không hề dễ dàng.
Ông Mạnh cho biết thêm, những năm trước, nhà trường duy trì mô hình “tủ bánh mì 0 đồng” nhằm hỗ trợ bữa sáng cho học sinh khó khăn. Tuy nhiên, khi số lượng học sinh không còn được hưởng chính sách tăng lên, nguồn lực quá tải, mô hình này buộc phải dừng lại.
Ở địa bàn khác, tại xã Chơ Long (Gia Lai), khó khăn lại nằm ở điều kiện thực hiện. Ông Nguyễn Thanh Phong – Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết năm học này toàn xã chỉ có 61 học sinh của hai trường được hưởng phụ cấp tiền ăn (0,4 mức lương cơ bản) và tiền ở (0,1 mức lương cơ bản).
Theo quy định, học sinh tiểu học cách trường từ 4km, THCS từ 7km trở lên sẽ được hỗ trợ tiền ở. Tuy nhiên, thực tế địa phương lại thiếu cơ sở vật chất để tổ chức nội trú, trong khi khu vực không có nhà trọ cho học sinh thuê. Các em chủ yếu học buổi sáng, ở lại trường tạm thời buổi trưa rồi chiều về nhà bằng cách đi bộ hoặc được người thân đón.
Một bất cập lớn phát sinh từ yêu cầu thủ tục. Để được nhận hỗ trợ tiền ở, học sinh phải có hợp đồng thuê nhà hoặc giấy xác nhận ở nhờ. Nhưng tại vùng sâu như Chơ Long, việc “thuê nhà” gần như không tồn tại, còn việc ở nhờ mang tính tự phát, khó có giấy tờ hợp thức. Nếu địa phương linh hoạt xác nhận thì lại dễ rơi vào tình huống không đúng quy định. Chính vì vậy, dự kiến từ học kỳ II năm học 2025 - 2026, nhiều học sinh sẽ không thể tiếp tục nhận khoản hỗ trợ này, dù nhu cầu thực tế vẫn còn rất lớn.
Nỗi niềm lấy chế độ “bán trú” nuôi trò “nội trú”
Những ngày qua, Trường THCS Xá Lượng (xã Tương Dương, Nghệ An) đau đầu tính toán nấu ăn cho hơn 100 học sinh bán trú. Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Hiệu trưởng, chia sẻ thời gian gần đây giá cả tăng mạnh, từ gas đến thực phẩm, rau củ, trong khi kinh phí tổ chức bán trú vẫn cố định theo Nghị định 66.
“Đặc thù của học sinh bán trú vùng cao là các em không chỉ ở lại buổi trưa mà sinh hoạt như nội trú từ thứ 2 đến thứ 6. Nhà trường phải lo toàn bộ từ chỗ ở đến các bữa ăn sáng, trưa, tối. Với nguồn kinh phí được cấp, chúng tôi phải tính toán rất kỹ để đảm bảo dinh dưỡng cho học sinh. Về lâu dài, chúng tôi mong chính sách có thể nâng mức hỗ trợ tiền ăn”, bà Dung chia sẻ.
Đây cũng là nỗi niềm chung của nhiều trường vùng cao Nghệ An. Ông Kha Văn Thông – Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT Tiểu học Nga My (xã Nga My), cho biết mỗi học sinh được hỗ trợ 936.000 đồng/tháng (tương đương 40% lương cơ sở). Tuy nhiên, khoản tiền này không chỉ dành cho bữa trưa mà phải chia cho 3 bữa mỗi ngày, do học sinh ở trường suốt tuần.
Nếu chỉ tổ chức ăn trưa, học sinh ở các bản xa sẽ khó đi về, đặc biệt với lứa tuổi tiểu học cần có người đưa đón. Thực tế, nhiều phụ huynh đi làm xa, trẻ ở nhà với ông bà lớn tuổi, việc đưa đón không đảm bảo. “Từng có học sinh hoàn cảnh đặc biệt, bố mẹ chia tay, sống với ông bà. Cuối tuần giáo viên chở về, đầu tuần lại đón lên trường, nếu không các em dễ bỏ học. Vì vậy, hầu hết trường bán trú phải nuôi học sinh như nội trú”, ông Thông chia sẻ.
Bên cạnh bài toán tiền ăn, chi phí điện nước cũng phát sinh vướng mắc. Tiền điện có hóa đơn nên dễ quyết toán, nhưng nước sinh hoạt ở vùng cao thường dẫn từ khe suối về bể lọc, không có hệ thống nước máy. Do đó, việc có chứng từ hợp lệ để thanh toán hỗ trợ tiền nước gần như không khả thi.
Không chỉ bậc phổ thông, trẻ mầm non vùng khó cũng vướng mắc khi thực hiện chính sách. Tại Chơ Long (Gia Lai), cả hai trường mầm non không đủ điều kiện hưởng hỗ trợ theo Nghị định 66 do thiếu cơ sở vật chất để tổ chức bán trú. Có trường có bếp nhưng thiếu dụng cụ, có trường thậm chí không có bếp ăn. Điều này đồng nghĩa nhiều trẻ nhỏ không được tiếp cận chính sách hỗ trợ. Từ thực tế trên, ông Nguyễn Thanh Phong cho rằng cần có giải pháp linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù vùng sâu, xa. Nếu những “nút thắt” này không được tháo gỡ, chính sách dù đúng mục tiêu vẫn có thể bỏ sót những học sinh rất cần được hỗ trợ.
Linh hoạt đưa chính sách vào thực tiễn
Dù còn nhiều khó khăn, theo Hiệu trưởng Trường THCS Xá Lượng, việc triển khai Nghị định 66 nhìn chung vẫn mang lại hiệu quả tích cực. Đây là điểm tựa quan trọng giúp các trường duy trì sĩ số, hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số có điều kiện học tập ổn định. Học sinh của trường đến từ 9 bản thuộc xã Tương Dương, trong đó có 6 bản đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, theo tiêu chí khoảng cách từ 7km trở lên, chỉ học sinh của hai bản Na Bè và Hợp Thành được hưởng chế độ bán trú. Phần lớn học sinh vẫn ở lại trường, chỉ một số ít ở nhờ nhà người thân xung quanh.
Những trường hợp ở xã khác đến học cũng được nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, xác nhận để hoàn tất hồ sơ và đảm bảo quyền lợi. Theo bà Nguyễn Thị Kim Dung, Nghị định 66 còn mở rộng đối tượng hỗ trợ đến học sinh dân tộc thuộc hộ nghèo, nhà xa trường từ 7km trở lên, dù không ở bản đặc biệt khó khăn, góp phần tạo điều kiện ổn định học tập cho các em.
Tại Trường Phổ thông DTBT Nga My, năm học này có 137 học sinh bán trú. Tuy nhiên, số phòng ở chưa đảm bảo, chủ yếu được cải tạo từ ký túc xá của giáo viên nhường cho học sinh. Vì vậy, hơn 70 học sinh nữ được bố trí ở trong trường. Còn lại, nhà trường thuê lâu dài nhà sàn của một hộ dân gần trường không có nhu cầu sử dụng để làm chỗ ở cho các học sinh nam bán trú. Đồng thời cử giáo viên trực quản lý thường xuyên và hướng dẫn các em trong sinh hoạt cá nhân, học tập, ngủ nghỉ.
Nhờ vị trí gần trường, học sinh dễ dàng tập trung về ăn uống và sinh hoạt chung. “Việc thuê nhà giúp nhà trường thuận lợi hơn trong quản lý, chăm sóc và giáo dục học sinh, đặc biệt các em nhỏ lần đầu xa gia đình. Đồng thời, có hợp đồng thuê cũng giúp hoàn thiện thủ tục để học sinh được hưởng hỗ trợ tiền ở”, ông Kha Văn Thông cho biết.
Ông Thông cũng cho biết, Nghị định 66 còn hỗ trợ kinh phí cho giáo viên dạy ngoài giờ chính khóa, tạo điều kiện để nhà trường tăng cường các hoạt động giáo dục khi tổ chức dạy học hai buổi/ngày.
Tính đến năm học 2025 - 2026, khu vực miền núi Nghệ An có 652 trường học, trong đó có 84 trường PTDTBT, tăng 44 trường so với năm học 2021 - 2022. Ngoài ra, nhiều trường khác cũng tổ chức hình thức bán trú để phù hợp điều kiện thực tế.
Theo ông Nguyễn Trọng Hoàn – Chánh Văn phòng Sở GD&ĐT Nghệ An, các trường đã triển khai nghiêm túc các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, trong đó có Nghị định 66. Qua đó, linh hoạt đổi mới chương trình giáo dục, tăng cường ngoại ngữ, tin học, STEM, kỹ năng sống và tiếng dân tộc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
HĐND tỉnh Nghệ An cũng ban hành Nghị quyết số 17/2024/NQ-HĐND nhằm hỗ trợ thêm cho các trường phổ thông dân tộc bán trú. Chính sách này bao gồm hỗ trợ giáo viên dạy các môn tăng cường, cũng như kinh phí mua sách giáo khoa để xây dựng tủ sách dùng chung, đảm bảo mỗi học sinh đều có sách học tập. Những chính sách này thể hiện nỗ lực, trách nhiệm của địa phương cùng với Đảng và Nhà nước chăm lo việc phát triển giáo dục vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.