Địa phương triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển GD-ĐT

'Nén' nguồn lực cho giáo dục toàn diện

GD&TĐ - Các chuyên gia, đại biểu Quốc hội gợi mở, cần quan tâm tăng cường nguồn lực bảo đảm các nhà trường đủ lớp, phòng chức năng, trang thiết bị cũng như đội ngũ… để học sinh có cơ hội trải nghiệm.

Học sinh Trường THCS Cầu Giấy (Hà Nội) thực hành trong phòng học STEM của nhà trường. Ảnh: NTCC
Học sinh Trường THCS Cầu Giấy (Hà Nội) thực hành trong phòng học STEM của nhà trường. Ảnh: NTCC

Các chuyên gia cũng gợi mở những việc mà địa phương cần ưu tiên giải quyết.

Không dừng ở chủ trương

Theo ông Nguyễn Văn Mạnh - đại biểu Quốc hội khóa XV, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ, quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) là, Nhà nước bảo đảm đủ trường, lớp, giáo viên để đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Nghị quyết đặt mục đến năm 2030 hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non, trẻ em từ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết THCS. Đến 2035 sẽ hoàn thành phổ cập giáo dục THPT và tương đương.

Do đó, ông Mạnh cho rằng, nếu không có giải pháp, mục tiêu xây dựng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, thì đến 2035 sẽ không đủ giáo viên và trường lớp để hoàn thành mục tiêu mà Nghị quyết 71 đề ra. Trong năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư kiên cố trường lớp. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tỷ lệ phòng học kiên cố còn thấp. Khối mầm non mới đạt 82% phòng học kiên cố, tiểu học là 82,9%, THCS là 89,8%, THPT là 97,07%, còn lại là nhà tạm, nhà bán kiên cố, lớp thuê, lớp mượn.

“Về đội ngũ giáo viên, cả nước thiếu trên 102.000 giáo viên. Chúng ta không thể đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nếu thiếu giáo viên, nhà trường, lớp học”, ông Mạnh trăn trở và đề xuất giải pháp huy động tối đa nguồn lực xã hội trong và ngoài nước để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục theo quan điểm chỉ đạo và mục tiêu mà Nghị quyết 71 đề ra, đó là toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo, tham gia đóng góp nguồn lực, giám sát để phát triển giáo dục.

Khẳng định, Nghị quyết 71 có tính chiến lược quyết định thời gian tới chúng ta sẽ thực hiện các mục tiêu về đột phá phát triển giáo dục đào tạo thế nào, bà Nguyễn Thị Mai Hoa - đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XV phân tích, nội dung đột phá được thể hiện trên ba phương diện: Thứ nhất, đột phá về tư duy, nhận thức về giáo dục.

Giáo dục không chỉ giữ vai trò quốc sách hàng đầu mà còn quyết định tương lai đất nước. Thứ hai là đột phá về cơ chế, chính sách tạo điều kiện bứt phá phát triển giáo dục, đào tạo trong thời gian tới. Thứ ba là đột phá trong tư duy lãnh đạo, quản lí với giáo dục đào tạo.

“Nghị quyết 71 đóng vai trò như Nghị quyết hành động, làm ngay, làm luôn và cần có chương trình mục tiêu quốc gia để năm 2026 triển khai thực hiện”, bà Mai Hoa nhìn nhận và nhớ lại, từ ngày khai trường đầu tiên tháng 9/1945, trong thư gửi học sinh Bác Hồ đã nhắc đến một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của học sinh. Giáo dục toàn diện được tiếp tục đề cập tại các kỳ đại hội Đảng khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo.

Giáo dục toàn diện được đề cập trong Nghị quyết 71 vừa là mục tiêu, vừa là một trong những giải pháp để đột phá phát triển giáo dục đào tạo. Nhìn lại hành trình dài, qua nhiều giai đoạn phát triển của đất nước, rõ ràng vấn đề giáo dục toàn diện đều được coi như mục tiêu của giáo dục. Tuy nhiên, theo bà Mai Hoa, đã có những yếu tố cả chủ quan và khách quan khiến mục tiêu này chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn.

Về khách quan, giáo dục của chúng ta chưa có đủ điều kiện trang thiết bị, nguồn lực, kinh phí... cho việc phát triển đức, trí, thể mỹ ngay tại các nhà trường. Chẳng hạn như thiếu sân bóng, bể bơi, nhà thể thao đa năng, phòng học nghệ thuật, thư viện... Về chủ quan nằm ở cách suy nghĩ, tiếp cận, điều hành giáo dục. Không ít nhà trường, địa phương chưa tiệm cận yêu cầu để thực hiện mục tiêu. Quan trọng nhất giáo dục nhà trường, đặc biệt bậc phổ thông vẫn nặng về thành tích, thi cử, điểm số.

Tâm lý học để thi, lấy điểm, thì thầy cô giáo, bố mẹ, học sinh sẽ tập trung vào các môn văn hóa và sao nhãng những hoạt động nhằm phát triển về thể lực, thẩm mỹ... Thời gian qua, chúng ta đã có những định hướng trong việc đưa nghệ thuật, thể thao trở thành môn học tự chọn trong nhà trường hoặc tổ chức buổi học thứ 2 trong ngày. Đây là chủ trương tốt nhưng điều kiện để thực hiện còn nhiều khó khăn. “Những vấn đề trên có thể xem như lí do để mục tiêu phát triển toàn diện chưa thể đạt được như mong muốn”, bà Mai Hoa nhìn nhận.

nen-nguon-luc-cho-giao-duc-toan-dien2.jpg
Cô trò Trường THCS Tây Mỗ (Hà Nội). Ảnh: NTCC

Cụ thể hóa hướng đi

Bộ GD&ĐT đã ban hành Công văn số 5215, hướng dẫn cụ thể việc mời chuyên gia, nghệ nhân, nghệ sĩ, huấn luyện viên, vận động viên tham gia các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông. Đây có thể xem như một trong những bước đi nhằm hiện thực hóa Nghị quyết 71 và Chỉ thị 17 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ.

Theo bà Mai Hoa, những văn bản đó rất quan trọng để triển khai sáng tạo và hiệu quả việc dạy nghệ thuật, thể thao ở buổi học thứ hai trong ngày cho học sinh. Thấy được mục tiêu nhưng phải quyết liệt, linh hoạt thì chúng ta sẽ tìm được cách làm.

Chúng ta nhìn ở số đông các nhà trường sẽ khó có khả năng tự chủ về nguồn lực tài chính, nhân sự để thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện. Trách nhiệm thuộc về các địa phương và cộng đồng xã hội giúp cho việc triển khai hoạt động này. Nghị quyết 71 cho thấy, cần huy động nguồn lực rộng lớn trong xã hội cho công tác giáo dục và đào tạo.

Đồng quan điểm, bà Lý Thị Lan - Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách khoá XV tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh, giáo viên bản địa là chìa khóa giải quyết nút thắt. Không phải cơ sở vật chất hay thiết bị, chính nhà giáo là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục nhưng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn đối mặt với việc thiếu giáo viên trầm trọng.

Giáo viên bản địa là linh hồn của lớp học mầm non vì họ nói được tiếng dân tộc, hiểu phong tục, được phụ huynh tin tưởng và gắn bó lâu dài với trường, với bản, với học trò. Nếu không giải quyết được bài toán đào tạo và tuyển giáo viên bản địa thì nút thắt giáo dục mầm non sẽ khó được giải quyết tận gốc.

Đề cập đến chuyển đổi số và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cô Hà Ánh Phượng - giáo viên Trường THPT Hương Cần (Phú Thọ) nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, cần gắn quyền tự chủ và hoạt động hợp tác quốc tế của các cơ sở giáo dục với nhiệm vụ dạy tiếng Việt và lan tỏa văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.

Theo cô Phượng, đây là định hướng chiến lược phù hợp với tinh thần Nghị quyết 71, vừa đáp ứng nhu cầu học tiếng Việt của kiều bào và bạn bè quốc tế, vừa góp phần quan trọng vào ngoại giao văn hóa, nâng cao hình ảnh quốc gia và “sức mạnh mềm” của Việt Nam. Qua đó, thu hút chất xám từ nước ngoài và kết nối cộng đồng kiều bào dạy tiếng Việt và văn hóa cho người nước ngoài.

Theo quan điểm của cô Phượng, không chỉ dừng lại ở các khóa học, lớp học đơn lẻ, rời rạc, mà cần hướng đến hệ thống có chuẩn đầu ra, có chứng chỉ, văn bằng được công nhận, tạo điều kiện cho người học tiếng Việt để lấy chứng chỉ ở nước ngoài. Hiện nay, người học muốn có chứng chỉ tiếng Việt phải bay về Việt Nam để lấy chứng chỉ.

nen-nguon-luc-cho-giao-duc-toan-dien-1.jpg
Giáo viên Trường Tiểu học Rạng Đông (Ninh Bình) hướng dẫn học sinh thực hành làm sản phẩm STEM “Cây gia đình”. Ảnh: NTCC

Từ thực tế đó, cô Phượng cho rằng, cần nâng thành hệ sinh thái dịch vụ giáo dục văn hóa có sức cạnh tranh trong khu vực và thế giới, mở ra cơ hội phát triển các dịch vụ giáo dục xuyên biên giới như các khóa học, học liệu số, kiểm tra và cấp chứng chỉ tiếng Việt. Qua đó tạo doanh thu, việc làm chất lượng cao, đồng thời thúc đẩy du lịch, ẩm thực, sản phẩm thủ công, nông sản và các ngành công nghiệp văn hóa.

Vì vậy, cô Phượng đề xuất, cần nhấn mạnh mục tiêu gắn lan tỏa văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam tới tăng trưởng kinh tế - xã hội, đồng thời giao cho Chính phủ quy định chi tiết về phạm vi, phương thức triển khai, tiêu chí đánh giá và bảo đảm nguồn lực, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, tăng cường chuyển đổi số, khuyến khích xã hội hóa và công khai kết quả thực hiện.

Còn đối với nhóm giáo viên, Đảng và Nhà nước khẳng định: giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhà giáo là nhân tố quyết định. Đồng thời, hình thành chủ trương lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ phụ cấp tùy theo tính chất công việc.

Chủ trương này tiếp tục được khẳng định và cụ thể hóa trong Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, sau này là Luật Nhà giáo, Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị. Do đó, cô Phượng mong muốn sớm thực hiện lộ trình áp dụng mức phụ cấp ưu đãi nghề của giáo viên đối với cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông.

Theo cô mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều quan trọng, giống như mắt xích của cả một bộ máy quốc gia. Việc dành cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù cho ngành giáo dục là phù hợp với thực tiễn khách quan vì đây là thời điểm quan trọng để tháo gỡ những điểm nghẽn để có thể đẩy được cả một hệ thống tốt hơn.

Để bảo đảm tính công bằng của chính sách, bà Nguyễn Thị Thu Thủy – đại biểu Quốc hội khóa XV, đoàn Gia Lai cho rằng, cần cân nhắc, ưu tiên đối với các địa phương còn khó khăn về ngân sách. Nếu giao toàn bộ quyền quyết định cho địa phương, những nơi thiếu nguồn lực sẽ gặp nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến tính công bằng và cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân.

Theo bà, việc các địa phương có điều kiện triển khai trước có thể giúp rút ngắn khoảng cách giáo dục giữa các vùng, song cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp để không tạo ra sự chênh lệch mới.

Thực tế, trong các chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay, những địa phương khó khăn thường được ưu tiên thụ hưởng chính sách tương ứng. Do đó, với các chính sách đặc thù, cần chủ động cân đối nguồn lực để bảo đảm triển khai hiệu quả, trong đó có mục tiêu miễn phí sách giáo khoa từ năm học 2026–2027.

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy nhấn mạnh, nguồn lực cần được ưu tiên tập trung cho các địa phương chưa tự chủ được ngân sách, đặc biệt là khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng sâu, xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm bảo đảm cơ hội học tập công bằng cho mọi học sinh.

nen-nguon-luc-cho-giao-duc-toan-dien-3.jpg
Một lớp học của Trường THPT Nguyễn Bính (Nam Định). Ảnh: Đình Tuệ

Tập trung vào hai trụ cột lớn

Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết 71, bà Nguyễn Minh Tâm – đại biểu Quốc hội khóa XV, tỉnh Quảng Trị đề xuất tập trung vào hai trụ cột lớn: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và thúc đẩy học tập suốt đời trong xã hội. Những kiến nghị này không chỉ mang tính chiến lược, mà còn gợi mở hướng đi thực tiễn cho việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn tới.

Theo đại biểu, việc nâng chuẩn trình độ giáo viên, đặc biệt ở bậc THPT là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra những đòi hỏi cao hơn về năng lực giảng dạy. Tuy nhiên, thay vì triển khai đại trà, bà Minh Tâm đề xuất thực hiện theo lộ trình thận trọng, có kiểm chứng thông qua thí điểm. Cụ thể, cần lựa chọn một số môn học cốt lõi như: Toán, Vật lí, Hóa học, Ngôn ngữ và Tin học để triển khai nâng chuẩn trình độ lên thạc sĩ.

Đại biểu kiến nghị bổ sung quy định giao Bộ GD&ĐT chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính tổ chức thí điểm tại khoảng 10–15 địa phương, đại diện cho cả vùng thuận lợi và vùng khó khăn trong giai đoạn 2026–2028. Nội dung thí điểm không chỉ dừng ở đào tạo nâng chuẩn, mà cần thiết kế đồng bộ các chính sách đi kèm như học bổng, hỗ trợ chi phí đào tạo, cơ chế tuyển dụng, chế độ phụ cấp, chính sách thu hút và ràng buộc cam kết phục vụ sau đào tạo.

Theo bà Nguyễn Minh Tâm, việc thí điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là cơ sở thực tiễn để đánh giá toàn diện tác động của chính sách, từ đó hoàn thiện cơ chế trước khi triển khai trên diện rộng. Dự kiến, sau khi tổng kết, đánh giá vào năm 2029, nếu đạt hiệu quả, chính sách có thể được nhân rộng và tiến tới điều chỉnh các quy định pháp luật liên quan.

Bên cạnh nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, bà Minh Tâm cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng xã hội học tập – một trong những mục tiêu lớn của Nghị quyết 71. Theo đó, việc chỉ dừng lại ở chính sách cho vay tín chấp đối với người học là chưa đủ để thúc đẩy học tập suốt đời trong bối cảnh hiện nay.

Từ thực tiễn triển khai các chính sách an sinh xã hội qua nền tảng số, bà đề xuất nghiên cứu mô hình “tài khoản học tập suốt đời” cho mỗi công dân. Đây là một công cụ tài chính linh hoạt, cho phép người dân tiếp cận các nguồn hỗ trợ để nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp trong suốt cuộc đời.

Theo đề xuất, mô hình này có thể được thí điểm trong giai đoạn 2026–2027 tại 5–10 địa phương. Bộ GD&ĐT sẽ chủ trì xây dựng tiêu chí lựa chọn các cơ sở đào tạo, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng và cơ chế thanh toán theo kết quả học tập. Trong khi đó, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng phương án nguồn lực và cơ chế quản lý tài khoản, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong sử dụng.

Nếu được thiết kế hợp lý, “ví học tập” không chỉ giúp người học chủ động hơn trong việc nâng cao kỹ năng, mà còn tạo động lực thúc đẩy thị trường đào tạo phát triển theo hướng cạnh tranh lành mạnh, lấy chất lượng làm trung tâm. Đây cũng là bước đi phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và phát triển nguồn nhân lực.

Không chỉ dừng lại ở việc đề xuất chính sách, bà Nguyễn Minh Tâm đặc biệt lưu ý đến khâu tổ chức thực thi - yếu tố quyết định sự thành công của các chủ trương lớn. Theo đại biểu, nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, các chính sách dù đúng đắn cũng có thể gặp khó khăn khi đi vào cuộc sống, thậm chí làm giảm hiệu quả và gây lãng phí nguồn lực.

Do đó, cần tăng cường giám sát hậu lập pháp. Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội cần phối hợp chặt chẽ với Chính phủ để đôn đốc xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể, bảo đảm có sự chuẩn bị đầy đủ trước khi chính sách có hiệu lực.

Bà Minh Tâm cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương xây dựng và ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các nghị định, thông tư liên quan đến những nội dung phức tạp như: Cơ chế tài chính, tín dụng sinh viên, thủ tục đất đai, hợp tác quốc tế… Việc hoàn thiện các văn bản này cần được thực hiện trước thời điểm 1/1/2026 - khi nghị quyết chính thức có hiệu lực nhằm tránh tình trạng lúng túng, chồng chéo hoặc áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.

Một vấn đề quan trọng khác được đại biểu nhấn mạnh là bảo đảm nguồn lực cho giáo dục. Theo tinh thần của nghị quyết, cần cụ thể hóa nguyên tắc dành tối thiểu 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục bằng các kế hoạch trung hạn và hằng năm. Quốc hội khi phê duyệt dự toán ngân sách cần tăng cường giám sát, bảo đảm việc phân bổ nguồn lực thực sự ưu tiên cho giáo dục.

Đồng thời, cần sớm hoàn thiện cơ chế huy động và quản lý các nguồn lực xã hội hóa, tạo điều kiện để thu hút tối đa nguồn lực ngoài ngân sách tham gia phát triển giáo dục. Việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm như xây dựng trường học ở vùng khó khăn, phát triển hạ tầng số, cũng được xem là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn tới.

Đại biểu Minh Tâm cho rằng, nếu các giải pháp này được triển khai đồng bộ và hiệu quả, giáo dục Việt Nam sẽ có cơ hội tạo ra bước chuyển mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục, mà còn là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội.

Theo bà Nguyễn Minh Tâm, đây là thời điểm quan trọng để tạo dựng nền tảng mới cho giáo dục quốc gia. Nếu tận dụng tốt cơ hội này, giáo dục không chỉ là lĩnh vực phục vụ phát triển, mà sẽ trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Mặc dù mang lại nhiều tiện ích, nhưng công nghệ không thể thay thế hoàn toàn trải nghiệm đọc sách truyền thống. Ảnh: INT.

Sách nào tốt hơn cho sự phát triển của trẻ?

GD&TĐ - Sách điện tử đang dần trở thành lựa chọn của nhiều gia đình nhờ sự tiện lợi và hấp dẫn. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng sách in truyền thống đóng vai trò quan trọng hơn trong việc phát triển ngôn ngữ, tư duy, gắn kết.