Thần thơ thánh chữ
37 năm cuộc đời với tám khoa thi đều hỏng, dấu ấn lều chõng cùng với cảnh nghèo vừa là nguồn đề tài phong phú vừa là nỗi đau dằn vặt giúp Tú Xương nảy nở những vần thơ tuyệt tác để Nguyễn Công Hoan suy tôn là “bậc thần thơ thánh chữ”.
Trần Tế Xương tự là Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh. Lúc nhỏ bố mẹ đặt tên là Trần Duy Uyên. Ông sinh năm 1870 tại ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu (nay là phố Minh Khai - TP Nam Định) và mất tại ngôi nhà số 280 phố Hàng Nâu năm 1907.
Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm. Tổ tiên ông lập công lớn dưới thời nhà Trần nên được phong quốc tính (đổi theo họ nhà vua). Là người tài hoa nhưng lận đận về đường khoa cử. Đi thi từ năm 15 tuổi nhưng hỏng, mãi tới năm 24 tuổi (1894) mới đỗ Tú tài, sau đó lại trượt Cử nhân 5 khoa liền.
Ông cưới vợ rất sớm, bà Phạm Thị Mẫn, một cô gái quê, có với nhau 8 người con - 6 trai và 2 gái. Nhà nghèo, con đông, nghề dạy học của ông lại bấp bênh trong thời kỳ nho học suy tàn nên mọi chi tiêu trong gia đình đều do một tay bà Tú quán xuyến.
Bà được xem là điển hình cho phụ nữ Việt Nam xưa: Tần tảo, thương chồng con, nhẫn nại quên mình… Chính bà đã đi vào thi phẩm của chồng như một nhân vật điển hình hấp dẫn: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông/ Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công…” (Thương vợ).
Cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Tú Xương gắn bó mật thiết với vùng đất Nam Định những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Nhiều thế hệ bạn đọc trong Nam, ngoài Bắc tìm về Thành Nam viếng mộ cụ Tú và ghé thăm ngôi nhà cũ số 280 Hàng Nâu (nay là phố Minh Khai) nơi gia đình nhà thơ từng sinh sống từ năm 1900 đến năm 1950. Ngôi nhà này đã thành một địa chỉ văn học thân thiết, được ghi danh trong các công trình biên khảo và văn học sử nước nhà.
![]() |
| Một bức cổng cổ trong ngõ Văn Nhân. |
“Gác thơ” vẫn còn nhưng nhà đã bán!
Chúng tôi qua ngôi nhà này. Một ngôi nhà mặt phố hai tầng, được gắn một tấm biển nhỏ đề: “Di tích lưu niệm Nhà thơ Tú Xương (1870 - 1907) 280 Minh Khai - TP Nam Định”. Ngôi nhà này không còn nguyên vẹn như xưa. Trước kia nhà hai tầng, lợp ngói ta.
Bây giờ, gian nhà ngoài nhìn ra mặt phố, tường ngoài ốp gạch men màu mận chín, cửa kéo - một kiểu tu sửa gần đây khiến nhiều người thất vọng. Đặc biệt khi nhìn bức ảnh chụp ngôi nhà cũ xây từ thời Pháp, ai cũng phải nuối tiếc về một địa chỉ, một chốn văn nhân tụ đàm.
Cửa đóng kín im ỉm suốt ngày. Tôi đứng tần ngần chụp một tấm hình bên di tích lưu niệm ấy. Người trong phố Minh Khai nói rằng, ngôi nhà cụ Tú được xây dựng năm 1875.
Nhà có kiến trúc hình ống, lòng nhà rộng chưa đầy 4m, có một gác trên để tiện cho cụ Tú yên tĩnh đọc sách, làm thơ. Mái trên là mái ô văng và hiên dưới đều lợp bằng ngói mũi. Dưới nhà có hai chùm cửa quay bằng gỗ, mỗi chùm có hai cánh.
Đến nay, ngôi nhà lọt thỏm giữa một “rừng” nhà bê tông và mái tôn. Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến năm 2014, ngôi nhà thuộc sở hữu của gia đình ông Trần Ngọc Thành. Một người hàng xóm nói rằng, từ những năm 50 của thế kỷ trước, con cháu cụ Tú đã bán nhà cho người khác.
Hiện tại, nhà chính ở mặt tiền đã bị phá đi xây lại. Chỉ còn cái gác văn của cụ ở phía sau - nơi cụ cho ra đời những vần thơ. Cái gác ấy đang âm thầm từng ngày từng giờ xuống cấp. Mặc dù người chủ hiện tại là một nhà giáo rất biết quý trọng nâng niu giá trị tinh thần, ra sức chèo chống giữ gìn, nhưng căn gác có thể biến mất bất cứ lúc nào.
Chúng tôi ra mộ nhà thơ nằm trong công viên xanh Vị Xuyên bên bờ hồ cùng tên của thành phố. Ngôi mộ tọa lạc tại mảnh đất xưa kia thuộc làng Vị Xuyên - nơi chôn nhau cắt rốn của Tú Xương. Trong nhiều thập niên, mộ chỉ là một nấm đất nằm âm thầm bên hồ, đến mức đã lan truyền trong dân gian mấy vần thơ: “Xè xè nấm đất bên hồ/ Hỏi ra mới biết rằng mồ Tú Xương!”.
Phải đến cuối năm 1989, mộ cụ Tú được xây mới trên nền mộ cũ và sau vài lần trùng tu thì có diện mạo như ngày nay, với các cấu trúc đá vững chãi và giàu thẩm mỹ. Một hàng đá xanh viền quanh mộ mang các hoa văn cách điệu hình sóng nước. Chính giữa mộ, sát mặt đất có đặt tấm bia phía đầu hơi cao hơn một chút, ghi dòng chữ: “Nhà thơ Trần Tế Xương - Vị Xuyên - Nam Định (1870 - 1907)”.
Bốn mặt quanh mộ đều có bậc tam cấp lát gạch với bốn bồn hoa nằm ở bốn góc. Xung quanh là khoảng sân rộng rãi và thoáng đãng, luôn được che phủ bởi những tán cây xanh. Cách mộ nhà thơ Tú Xương không xa là hồ Vị Xuyên. Đây là phần còn sót lại của sông Vị Hoàng - con sông đã tạo cảm hứng cho nhà thơ thành Nam viết nên bài thơ bất hủ “Sông lấp”.
Phía trước là lư hương. Phía sau là một tấm bia đá, trên đó, mặt trước khắc hai câu thơ trong bài “Sông lấp” của Tú Xương - bên trên là chữ Nôm, bên dưới là chữ quốc ngữ: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò”. Mặt sau khắc hai câu thơ trong bài “Viếng Tế Xương” của Nguyễn Khuyến: “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn”.
Theo nhiều cao niên ở Nam Định am hiểu Hán Nôm cho rằng, câu thơ trích trong bài “Sông lấp” tạc trên bia phải thay chữ “lại” bằng chữ “còn” mới đúng.
Trong sách “Tú Xương - tác phẩm, giai thoại” của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh xuất bản năm 1986 cũng in là “còn” chứ không phải là “lại”. “Giật mình lại tưởng” chỉ là giật mình nghe lộn, xong rồi thôi. “Giật mình còn tưởng” mới thảng thốt hoài niệm và hoài niệm da diết mãi về dòng sông đã bị lấp mất.
Nhiều cụ cao niên thường ngày tập thể dục trong công viên đều ghé qua mộ cụ Tú, đọc vài câu thơ và bàn luận về những ẩn ý trong thơ Tú Xương. Một cụ khẳng định rằng: Mộ nhà thơ Tú Xương hài hòa với cảnh quan xung quanh. Có lẽ đây là một trong những ngôi mộ đương đại đẹp nhất ở Việt Nam. Nếu có thiếu, chỉ là thiếu một bức tượng của nhà thơ.
![]() |
| Mộ Tú Xương bên trong công viên Vị Xuyên. |
“Tế” đổi thành Cao” mà vẫn trượt!
“Thiếu thốn – éo le” vốn đã đi vào thi ca của Tú Xương. Cho nên, nhiều người cho rằng, việc phải có một bức tượng cụ Tú bên mộ chỉ là “có cho đẹp”. Trong đời của Tú Xương có thiếu gì nỗi éo le từng trải. Trong đó bài thơ “Bỡn tri phủ Xuân Trường” chính là một câu chuyện về nhân tình thế thái.
Chuyện kể rằng Tú Xương có người bạn nhậm chức tri phủ Xuân Trường, sau nhiều lần mời nhà thơ về phủ đường đóng tại làng Ngọc Cục, Tú Xương đều từ chối, vì nể bạn quá nhiều lần mời nên một lần nọ ông nhận lời. Quãng đường từ thành phố Nam Định về phủ Xuân Trường mất gần ba chục cây số, ông đi lối Cổ Lễ tới bến đò Cựa Gà làng Ngọc Cục nơi đóng đô phủ Xuân Trường.
Vừa lên tới bến đò ông đã nhận thấy ở làng Ngọc Cục này là một ngôi làng trù phú và thơ mộng. Cũng từ đây ông cũng nghe được nhiều cánh lái buôn đi qua bến đò Cựa Gà và dân tình than vãn về vị phụ mẫu của dân ăn đút lót hối lộ nhiều, sau đó nhà thơ có đi qua phủ Xuân Trường nhưng không cho bạn biết mà ra phố Ngọc Cục chọn một quán hàng nhâm nhi chén rượu nhạt và hỏi thăm về ông quan bạn.
Thoảng hơi men, ông mượn bà chủ quán nghiên mực cùng tờ giấy và viết lên vài lời nhắn nhủ gửi lại bạn mình. Sau đó bài thơ đã nổi tiếng khắp vùng, cũng là một bài thơ trào phúng được đánh giá là một trong sáu bài thơ hay nhất trong những bài thơ của ông: “Tri phủ Xuân Trường được mấy niên?/ Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên/ Chữ phê chữ chiểu ông không biết/ Ông chỉ biết phê một chữ tiền!?”. Những câu thơ này, cho đến hôm nay người huyện Xuân Trường vẫn còn thuộc lòng.
Lại có chuyện một nhà nho quê ở Nam Trực lên phố Hàng Thao hát cô đầu (Hàng Thao của Nam Định ngày trước cũng là “người chị em” với phố Khâm Thiên - Hà Nội cùng thời) nhưng bị cô đào nẫng mất chiếc ô lục soạn đắt tiền. Ông này tiếc của nhưng không biết làm thế nào, bèn đến nhà Tú Xương nhờ ông Tú rửa cho cái hận này.
Ông Tú vui vẻ nhận lời. Sáng hôm sau, chủ nhà ả đào nhận được tờ hoa tiên có bài thơ trên. Bài này được lưu truyền nhanh chóng khiến nhà ả đào bị mất khách. Bà chủ ả đào chẳng phải tay vừa, biết ngay là trò của ông Tú, liền đến xin ông thương cho và tha cho các “em nó”.
Cuộc đời Tú Xương gắn liền với lều chõng, tính ra có tất cả 8 lần. Sau 3 lần hỏng, mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) mới đỗ Tú tài, nhưng cũng chỉ là Tú tài thiêm thủ (lấy thêm).
Mãi sau đó dù kiên trì đeo đuổi, ông vẫn không đỗ được Cử nhân. Khoa Quý Mão (1903), ông đổi tên thành Trần Cao Xương với hy vọng bớt vận đen, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng, đến phải cáu gắt trong bài “Hỏng thi khoa Quý Mão”: “Tế” đổi làm “Cao” mà chó thế!/ “Kiện” trông ra “Tiệp” hỡi trời ôi!.
Đang lúc còn đeo đuổi nghiệp khoa cử thì ông đột ngột qua đời năm 1907. Cuộc đời 37 năm ngắn ngủi của ông toàn nằm trong giai đoạn bi thương của đất nước, ông dũng cảm dùng ngòi bút trào phúng giễu mình, giễu đời, tung hê mọi cái nhố nhăng của xã hội, từ dân đến quan, không chừa một ai.
Tú Xương được xem là hiện tượng hiếm trong lịch sử tác gia Việt Nam, là người tạo ra “môn phái” thơ ca riêng với nhiều “môn đệ” hậu sinh. Chữ Xương trong tên ông có nghĩa là “thịnh vượng” (còn có nghĩa là đẹp, thẳng).
Nhưng những người chuyên làm thơ trào phúng về sau đã cố tình “xuyên tạc” một cách đáng yêu, cho đó có nghĩa là xương thịt. Từ đó, họ tự nguyện suy tôn Tú Xương (thịt) lên bậc tổ sư một “môn phái” quy tụ những môn đệ “ăn theo” học vị khoa bảng như: Tú Mỡ, Tú Sụn, Cử Nạc, rồi Tú Poanh, Đồ Phồn...
Câu nói bất hủ của nhà văn Nga M.E.Saltykov-Shchedrin (1826 - 1889): “Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”, hay câu thơ Nguyễn Khuyến khóc Tú Xương “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn” đã vận vào số phận thơ văn của con người bước không qua tuổi 37 ấy.
Xuân Diệu xếp Tú Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm. Nhà phê bình Ðặng Thai Mai khen Tú Xương là “Thầy Tú biết cười”.
Nguyễn Tuân biểu dương Tú Xương là một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam. Nhưng có lẽ, suy tôn ông là “bậc thần thơ thánh chữ” như Nguyễn Công Hoan thì mới xứng đáng với thi tài của một tâm hồn đầy nhân bản, một tấm lòng nghệ sĩ đôn hậu thủy chung nơi ông.
Hằng ngày, nơi đặt ngôi mộ nhà thơ Tú Xương có nhiều đoàn khách đến tham quan, nhiều nhóm văn nghệ sĩ đến trao đổi, ngâm vịnh, làm thơ và nhiều người dân trong thành phố lui tới hóng mát, đánh cờ…
Đặc biệt, nhiều sĩ tử thường đến đây để cầu đỗ đạt mặc dù đây là ngôi mộ của nhà thơ rất lận đận về đường thi cử.
Thời đó, người đỗ tú tài được xếp vào loại học hành dở dang, không được dự thi cấp cao hơn và cũng thiếu chuẩn để được bổ làm quan. Tên “Xương” có nghĩa là thịnh vượng, đẹp - thẳng nhưng số phận Tú Xương suốt đời bị việc hỏng thi. Vì vậy ông đã từng thốt lên: “Học đã sôi cơm nhưng chửa chín/Thi không ăn ớt thế mà cay!”.
Từ nhà Tú Xương đến ngõ Văn Nhân cách không xa lắm. Xưa, không biết bao lần Tú Xương cùng những người bạn đàm đạo tại đây trước lúc đến trường thi. Nay, ngõ Văn Nhân vẫn còn nhưng quang cảnh đổi thay, con người cũng đã khác xưa chẳng còn biết đến một thời lều chõng.
Nhưng dù sao, người ta vẫn còn nhớ đến và nhắc đến một ông Tú Xương thi trượt mà rất mực tài hoa, hài hước đầy châm biếm. 37 tuổi lìa cõi trần, nhưng ở Nam Định ai cũng gọi Tú Xương là cụ Tú – biểu đạt tấm lòng trân trọng, đúng như câu thơ mà Nguyễn Khuyến viếng Tú Xương: “Kìa ai chín suối xương không nát/Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn”.

