Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Kỳ vọng vào các quyết sách cho giáo dục

GD&TĐ - Cử tri khẳng định niềm tin, kỳ vọng vào những quyết sách mạnh mẽ, thực chất, có khả năng tạo ra chuyển biến rõ nét cho hệ thống giáo dục.

Giờ học của cô và trò Trường THCS Triệu Hải (xã Đạ Tẻh 2, Lâm Đồng). Ảnh: ITN
Giờ học của cô và trò Trường THCS Triệu Hải (xã Đạ Tẻh 2, Lâm Đồng). Ảnh: ITN

Kỳ vọng giáo dục phát triển bền vững

Từ thực tiễn giảng dạy trong nhiều năm, TS Nguyễn Minh Giám - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một (TPHCM), theo dõi kỳ họp Quốc hội lần này với sự quan tâm và kỳ vọng rất lớn.

TS Nguyễn Minh Giám tin rằng Quốc hội, cùng các đại biểu, đặc biệt những đại biểu hoạt động trong ngành Giáo dục, sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa chính sách và thực tiễn, lắng nghe nhiều hơn những ý kiến từ cơ sở để từ đó đưa ra các quyết sách phù hợp, khả thi, có tính lan tỏa.

Bày tỏ kỳ vọng, TS Nguyễn Minh Giám mong rằng, Quốc hội sẽ quan tâm hơn nữa đến việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo - yếu tố then chốt của mọi cải cách và chất lượng giáo dục.

Trong thời gian qua, chúng ta đã có nhiều chủ trương đúng đắn về chuẩn hóa, bồi dưỡng và phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên, giảng viên. Tuy nhiên, trong thực tế còn những khó khăn nhất định liên quan đến chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến.

Từ thực tiễn này, TS Nguyễn Minh Giám hy vọng sẽ có những chính sách đồng bộ hơn, không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ chuyên môn, mà còn tạo điều kiện để nhà giáo yên tâm gắn bó lâu dài với nghề, được ghi nhận xứng đáng với những đóng góp của mình. Khi người thầy thực sự an tâm và có động lực, chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ được nâng lên một cách bền vững.

Bên cạnh đó, một nội dung đáng quan tâm là tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ trong giáo dục đại học. Thực tiễn cho thấy tự chủ là xu hướng tất yếu, giúp các cơ sở giáo dục linh hoạt hơn trong tổ chức đào tạo, nghiên cứu và quản trị. Tuy nhiên, tự chủ cần đi kèm với hành lang pháp lý rõ ràng và sự hỗ trợ cần thiết từ Nhà nước để đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các cơ sở, tránh tình trạng có sự chênh lệch hoặc phát sinh những khó khăn trong quá trình triển khai.

TS Nguyễn Minh Giám kỳ vọng Quốc hội sẽ có những điều chỉnh phù hợp để cơ chế tự chủ thực sự phát huy hiệu quả, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa đảm bảo tính ổn định và công bằng của hệ thống giáo dục.

Ngoài ra, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, giảng viên Trường Đại học Thủ Dầu Một mong muốn Quốc hội sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc hỗ trợ đội ngũ nhà giáo thích ứng với những thay đổi này.

Việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy không chỉ là xu thế, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, giảng viên cần được trang bị đầy đủ về kỹ năng số, phương pháp giảng dạy mới cũng như có môi trường thuận lợi để đổi mới sáng tạo. Do đó, cần có những chính sách cụ thể về đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên, cũng như xây dựng các chuẩn nghề nghiệp phù hợp với bối cảnh mới.

“Điều tôi kỳ vọng là các chính sách giáo dục trong thời gian tới sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, chú trọng nhiều hơn đến yếu tố con người, từ người dạy cho đến người học”, TS Nguyễn Minh Giám chia sẻ.

ky-vong-vao-cac-quyet-sach-cho-giao-duc-5.jpg
TS Đỗ Thị Minh Phượng và sinh viên Học viện Ngân hàng.

Trong bối cảnh ngành Giáo dục đang đứng trước nhiều thách thức về nhân lực và cơ chế vận hành, ông Trần Quang Bình - Hiệu trưởng Trường PTDTBT THCS Na Khê (xã Bạch Đích, Tuyên Quang), mong muốn gỡ “điểm nghẽn” tại cơ sở, đồng thời gửi gắm nhiều kỳ vọng tới Quốc hội trong việc hoàn thiện chính sách.

Theo ông Trần Quang Bình, tình trạng thiếu hụt giáo viên cục bộ đang diễn ra ở nhiều bộ môn như Mỹ thuật, Tin học, Tiếng Anh. Đáng chú ý, các vị trí việc làm hỗ trợ phục vụ hầu như chưa được giao đầy đủ, trong khi việc tuyển dụng giáo viên hợp đồng gặp nhiều khó khăn do nguồn tuyển khan hiếm. Thậm chí, có thời điểm phải hạ tiêu chuẩn nhưng vẫn không tìm được người phù hợp.

Trước thực tế này, nhà trường kỳ vọng Quốc hội có những tháo gỡ mạnh mẽ hơn về cơ chế. Trước hết là tăng quyền tự chủ trong tuyển dụng, cho phép các cơ sở giáo dục đủ điều kiện được tham gia sâu vào quy trình tuyển chọn, từ đó lựa chọn được giáo viên phù hợp với đặc thù địa phương.

Cùng đó, cần luật hóa các chính sách đãi ngộ đặc thù, bao gồm lương và phụ cấp đủ sức hấp dẫn để thu hút giáo viên về công tác tại vùng khó khăn, đặc biệt các xã biên giới. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý biên chế linh hoạt cũng được xem là giải pháp quan trọng, cho phép điều chuyển hợp lý giữa các địa phương hoặc cấp học nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cục bộ.

Ngoài ra, việc bố trí đầy đủ các vị trí việc làm theo Thông tư số 20/2023/TT-BGDĐT cần được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo điều kiện vận hành tối thiểu cho các nhà trường.

Với tư cách người làm quản lý trong lĩnh vực giáo dục, bà Nguyễn Thị Hương - Tổng Giám đốc Trường PTLC Phenikaa, khẳng định niềm tin và kỳ vọng vào những quyết sách mạnh mẽ, thực chất, có khả năng tạo ra chuyển biến rõ nét cho hệ thống giáo dục cũng như đội ngũ nhà giáo trong kỳ họp Quốc hội lần này, bà Nguyễn Thị Hương bày tỏ mong muốn Quốc hội và các đại biểu sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm nâng cao vị thế và đời sống của đội ngũ giáo viên.

Thực tế cho thấy, dù đóng vai trò trung tâm trong quá trình đổi mới giáo dục, nhưng nhiều giáo viên vẫn đối mặt với áp lực lớn về thu nhập, khối lượng công việc và yêu cầu đổi mới không ngừng. Vì vậy, cần có những chính sách tiền lương, đãi ngộ tương xứng, cũng như cơ chế ghi nhận, tôn vinh xứng đáng để giáo viên thực sự yên tâm gắn bó lâu dài với nghề. Đây không chỉ là câu chuyện an sinh, mà còn là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục.

Cùng đó, Tổng Giám đốc Trường PTLC Phenikaa kỳ vọng những quyết sách mang tính đột phá trong việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đi kèm với cơ chế kiểm soát chất lượng minh bạch, hiệu quả.

Trong bối cảnh giáo dục đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng cá thể hóa và hội nhập quốc tế, việc trao quyền chủ động cho nhà trường trong xây dựng chương trình, tuyển dụng nhân sự, phân bổ nguồn lực sẽ giúp phát huy tối đa sự sáng tạo và phù hợp với nhu cầu thực tiễn của người học. Tuy nhiên, tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình và hệ thống đánh giá chất lượng độc lập, khách quan.

Bà Nguyễn Thị Hương đồng thời mong muốn Quốc hội quan tâm hơn nữa đến việc thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục một cách đồng bộ và thực chất. Sau đại dịch, chuyển đổi số không còn là xu hướng, mà trở thành yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần có chiến lược tổng thể từ hạ tầng công nghệ, nội dung số, đến đào tạo năng lực số cho giáo viên và học sinh. Đặc biệt, cần thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, đảm bảo mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận với giáo dục chất lượng trong môi trường số.

Cùng đó là mong mỏi về những chính sách rõ ràng hơn trong việc gắn kết giáo dục với yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập toàn cầu. Bà Nguyễn Thị Hương cho rằng, các chương trình giáo dục cần hướng đến việc hình thành những công dân không chỉ có tri thức, mà còn có năng lực thích ứng, tư duy sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Việc tích hợp các nội dung như STEM, ESG, kỹ năng công dân toàn cầu vào chương trình học cần được định hướng và hỗ trợ ở tầm chính sách để triển khai đồng bộ, hiệu quả trên toàn hệ thống.

“Tôi tin tưởng, với sự lắng nghe, đồng hành và quyết tâm đổi mới của Quốc hội cùng các đại biểu, đặc biệt những đại biểu am hiểu sâu sắc lĩnh vực giáo dục, chúng ta sẽ có những bước tiến mạnh mẽ trong thời gian tới. Giáo dục không chỉ là nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là chìa khóa để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Vì vậy, những quyết sách đúng đắn hôm nay sẽ tạo ra những giá trị bền vững cho tương lai”, bà Nguyễn Thị Hương chia sẻ.

ky-vong-vao-cac-quyet-sach-cho-giao-duc-3.jpg
Các nhà giáo mong muốn có thêm chính sách hỗ trợ học sinh các địa bàn khó khăn, vùng ven biển, biên giới, hải đảo. Ảnh: Đinh Chiến

Những quyết sách chạm tới bản xa

Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI diễn ra trong thời điểm cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với nhiều yêu cầu lớn về đổi mới, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ở Điện Biên - nơi còn nhiều điểm trường nằm xa trung tâm, đường đến lớp vẫn nhiều cách trở, phiên họp của Quốc hội được dõi theo với niềm chờ đợi thực tế.

Thầy Lê Văn Tuấn - giáo viên Trường THPT Trần Can, xã Na Son, bày tỏ kỳ vọng Quốc hội tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt cho giáo dục và đào tạo, xây dựng nền giáo dục hiện đại, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Từ thực tế công tác ở địa bàn đặc biệt khó khăn, thầy mong Quốc hội dành nhiều thời gian thảo luận để đưa ra giải pháp, lộ trình cụ thể nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời quan tâm hơn tới Luật Nhà giáo, các quy định liên quan đến hoạt động dạy học và đời sống của đội ngũ giáo viên. Theo thầy, chỉ khi người thầy yên tâm với nghề, họ mới có thể dành trọn trí tuệ và tâm huyết cho sự nghiệp đào tạo con người.

Chia sẻ của thầy Tuấn cũng chạm tới một vấn đề lâu nay còn nhiều trăn trở đó là thu nhập và sức hút của nghề giáo. Theo thầy, mức lương hiện nay chưa tương xứng với áp lực nghề nghiệp và yêu cầu công việc, vì thế không nhiều học sinh giỏi lựa chọn ngành sư phạm như một đích đến lâu dài. Mong mỏi của thầy, sâu xa hơn, là nghề giáo được nhìn nhận công bằng hơn và được tiếp sức bằng chính sách đủ mạnh để giữ chân người làm nghề.

Cùng chung suy nghĩ ấy, cô Bạc Linh Thảo - giáo viên Trường PTDTBT THCS Ta Ma, xã Pú Nhung (Điện Biên), mong Quốc hội quan tâm hơn tới cơ chế đặc thù cho giáo dục vùng khó; trong đó có lương, phụ cấp, nhà công vụ, phương tiện đi lại và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ cho giáo viên vùng sâu, xa. Với những giáo viên trẻ chọn bản làng làm nơi cống hiến, đó không chỉ là hỗ trợ vật chất, mà còn là sự ghi nhận để họ có thêm niềm tin gắn bó với nghề.

Trường Mầm non Nậm Nhừ, xã Nà Hỳ (Điện Biên) đóng chân tại địa bàn vùng cao, giao thông đi lại khó khăn, nhiều điểm trường lẻ xa trung tâm, cơ sở vật chất còn thiếu và xuống cấp; đặc biệt, nhà trường còn thiếu 8 giáo viên so với định mức. Từ thực tế đó, cô Lò Thị Nga mong muốn có phụ cấp ưu đãi riêng cho giáo viên mầm non, đồng thời có chế độ phù hợp cho giáo viên tham gia công tác phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi. Còn cô Lường Thị Binh mong được bổ sung thêm giáo viên và quan tâm bê tông hóa đường đi để việc đến trường, bám lớp thuận lợi hơn…

Còn theo bà Lê Thị Phương - Hiệu trưởng Trường Mầm non Thụy Hải (xã Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên), điều mà đội ngũ giáo viên, đặc biệt giáo viên mầm non mong chờ nhất hiện nay là sự cải thiện về chế độ chính sách tiền lương và phụ cấp. Đây là yếu tố then chốt giúp giáo viên yên tâm gắn bó với nghề.

“Chỉ khi đời sống được đảm bảo, giáo viên mới toàn tâm toàn ý với công việc, từ đó chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mới được nâng lên”, bà Phương chia sẻ.

Chung quan điểm, ông Nguyễn Văn Chanh - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thụy Phong (xã Nam Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên), bày tỏ mong muốn Đảng, Nhà nước tiếp tục quan tâm toàn diện đến đội ngũ nhà giáo, cả về vật chất lẫn tinh thần.

“Chúng tôi mong muốn các cấp tiếp tục quan tâm nhiều hơn nữa đến đời sống cán bộ, giáo viên. Khi thầy cô được đảm bảo, có động lực, thì chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ nâng cao”, thầy Chanh nói.

Không chỉ giáo viên, theo bà Lê Thị Phương, đội ngũ nhân viên trường học như kế toán, phục vụ… cũng cần được quan tâm hơn về chế độ đãi ngộ. Hiện nay, lực lượng này còn thiếu, trong khi mức phụ cấp còn thấp, chưa tương xứng với vai trò và khối lượng công việc.

“Nhân viên trường học đóng vai trò quan trọng trong vận hành nhà trường, nhưng chế độ đãi ngộ còn hạn chế. Nếu có thể điều chỉnh tăng phụ cấp, sẽ góp phần ổn định đội ngũ và nâng cao hiệu quả hoạt động”, Hiệu trưởng Trường Mầm non Thụy Hải kiến nghị.

Bên cạnh đó, với các địa bàn khó khăn, vùng ven biển, biên giới, hải đảo, việc có thêm chính sách hỗ trợ học sinh như tiền ăn trưa, chi phí học tập cũng là mong mỏi lớn của các nhà trường.

“Hiện nay, học sinh đã được miễn học phí, nhưng nhiều gia đình vẫn khó khăn, đặc biệt ở vùng khó, khu vực ven biển. Nếu có thêm chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa hoặc chi phí học tập cho trẻ, sẽ tạo điều kiện để các em được đến trường đầy đủ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện”, bà Phương chia sẻ.

Bà Nguyễn Hải Nhung - Hiệu trưởng Trường Mầm non Ta Ma (xã Pú Nhung, Điện Biên), chia sẻ: Một số điểm trường còn xa trung tâm, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, phòng học và nhà bếp chưa được xây dựng kiên cố, nhiều điểm trường chưa có mái che; trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi còn thiếu, trong khi 99,8% học sinh dân tộc thiểu số nên kỹ năng giao tiếp tiếng Việt còn hạn chế.

Từ thực tế đó, nhà trường kiến nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư cho giáo dục mầm non vùng đặc biệt khó khăn, hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nâng cao năng lực cho đội ngũ.

Tâm tư của nhà giáo vùng cao, khó khăn trên mọi miền Tổ quốc đều gặp nhau ở điểm chung: Mong Quốc hội lắng nghe tiếng nói từ cơ sở và chuyển hóa thành những quyết sách chạm tới tận bản xa. Đó là kỳ vọng vào chính sách tốt hơn cho đội ngũ, sự đầu tư rõ hơn cho trường lớp, thiết bị, chuyển đổi số và những điều kiện công bằng hơn để học sinh miền núi được học tập, trưởng thành.

ky-vong-vao-cac-quyet-sach-cho-giao-duc-4.jpg
Cô và trò Trường Mầm non Thụy Hải (xã Thái Thụy, Hưng Yên). Ảnh: Đinh Chiến

Phát huy vai trò trường đại học trong phát triển công nghệ chiến lược

Trong thế kỷ XXI, công nghệ trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia. Theo đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), hy vọng Quốc hội khóa XVI sẽ bàn thảo sâu sắc và có những quyết sách thấu đáo về vấn đề này.

Lý giải cho những mong mỏi trên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức phân tích, những quốc gia thành công đều không chỉ tiếp cận công nghệ, mà chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược.

Đối với Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển, việc xây dựng và triển khai chương trình công nghệ chiến lược (CNCL) mang ý nghĩa sống còn, không chỉ về kinh tế, mà còn về an ninh, tự chủ và phát triển bền vững.

Một điểm đặc biệt quan trọng trong tư duy phát triển CNCL hiện nay là sự chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên công nghệ sang cách tiếp cận dựa trên bài toán quốc gia.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo, đại học là nơi duy nhất có thể đảm đương vai trò này một cách bền vững. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ hay bán dẫn… đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học, trước khi được chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp.

Bên cạnh đó, đại học còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao – yếu tố quyết định thành công của mọi chương trình công nghệ lõi, CNCL. Trong bối cảnh mới, đào tạo đại học không thể dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà phải hướng tới phát triển năng lực nghiên cứu và sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn.

Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải được thiết kế lại, trước hết phải có nền tảng kiến thức cơ bản thật hiện đại - bởi nếu không có nền tảng khoa học cơ bản đủ sâu và mạnh, thì không thể nào vươn tới làm chủ công nghệ lõi, đồng thời đào tạo ở đại học phải gắn kết chặt chẽ với các bài toán lớn của quốc gia và các dự án CNCL. Sinh viên không chỉ học để biết, mà học để làm, để thiết kế và để đổi mới.

Cũng theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, điểm đột phá khác trong chính sách phát triển CNCL là vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập thị trường. Thay vì chỉ tài trợ nghiên cứu, Nhà nước còn đóng vai trò là người mua đầu tiên, hoặc tạo ra nhu cầu thị trường đủ lớn cho các sản phẩm chiến lược…

Cùng đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo các bài toán lớn cũng giúp định hướng hoạt động khoa học công nghệ một cách hiệu quả hơn. Thay vì các đề tài nhỏ lẻ, phân tán, các trường đại học cần chuyển sang tham gia các chương trình lớn, mang tính liên ngành và có mục tiêu rõ ràng…

Về mặt cơ chế, đổi mới tài chính và quản trị khoa học công nghệ là điều kiện cần thiết. Việc chuyển sang cơ chế cấp phát ngân sách theo dạng “block funding” giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các đơn vị nghiên cứu.

Tuy nhiên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, đi kèm với tự chủ là trách nhiệm giải trình, được thể hiện thông qua hệ thống đánh giá theo bốn tầng: Đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động. Đây là một cách tiếp cận hiện đại, giúp đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động khoa học công nghệ, từ nghiên cứu đến ứng dụng và tác động xã hội.

Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần thực hiện một quá trình chuyển đổi toàn diện. Trước hết, cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, tập trung vào các lĩnh vực CNCL và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Tiếp theo, cần cải tiến chương trình để người học có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và đổi mới mạnh mẽ hình thức tổ chức quản lý đào tạo gắn với doanh nghiệp, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, triển khai hiệu quả mô hình hợp tác 4 nhà: Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học và trường đại học.

Cần triển khai đào tạo các công trình sư, tổng công trình sư ở một số trường đại học công nghệ - kỹ thuật trọng điểm. Nhà nước cần đầu tư cho các chương trình đào tạo cử nhân và kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn.

Với các chuyên gia, nhà khoa học giỏi cần đổi mới tư duy, sử dụng và giao nhiệm vụ theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”. Việt Nam cũng rất cần xây dựng các khu thử nghiệm đặc biệt (sandbox) với cơ chế linh hoạt, cho phép các trường đại học thử nghiệm công nghệ mới mà không phải xin phép.

Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, không chỉ để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, mà còn để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tự chủ đại học, để các trường đại học có thể phát huy tốt nhất, nhanh nhất mọi nguồn lực cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển.

“Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để bứt phá. Điều quan trọng là phải hành động một cách đồng bộ, kiên định và có tầm nhìn dài hạn. Trong hành trình đó, các trường đại học cũng đứng trước cơ hội vàng để phát triển. Trường đại học cần được đặt đúng vị trí của mình – không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh ra tri thức và các công nghệ lõi, là trụ cột của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia” - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho biết.

ky-vong-vao-cac-quyet-sach-cho-giao-duc-6.jpg
Cô, trò Trường Phổ thông liên cấp Phenikaa.

Sớm ban hành chính sách miễn phí sách giáo khoa

Trong nhiệm kỳ mới, cử tri mong muốn Quốc hội khóa XVI sẽ ban hành chính sách miễn phí sách giáo khoa phổ thông, giáo trình đại học.

TS Đỗ Thị Minh Phượng - Trưởng Bộ môn Luật học thuộc Khoa Luật - Học viện Ngân hàng, cho biết Bộ GD&ĐT đang xây dựng dự thảo miễn phí sách giáo khoa phổ thông và lộ trình miễn phí giáo trình cùng học phí đối với môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh cho sinh viên các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp là chủ trương có ý nghĩa tích cực cả về chính sách giáo dục lẫn bảo đảm công bằng xã hội.

Theo TS Đỗ Thị Minh Phượng, việc Nhà nước bảo đảm nguồn lực để miễn học phí và giáo trình theo lộ trình là bước điều chỉnh cần thiết nhằm giảm chênh lệch và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng hơn. Từ góc độ tác động có thể nhìn nhận ở một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, giảm gánh nặng tài chính cho sinh viên: Chính sách này sẽ trực tiếp giảm chi phí học tập, đặc biệt với sinh viên có hoàn cảnh khó khăn hoặc học tại các trường có mức thu cao. Điều này góp phần thực hiện mục tiêu an sinh giáo dục và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học.

Thứ hai, tăng tính công bằng và chuẩn hóa trong đào tạo: Khi giáo trình được cung cấp thống nhất và miễn phí (có thể theo cơ chế mượn – trả qua thư viện) sẽ hạn chế tình trạng mỗi nơi sử dụng tài liệu khác nhau, từ đó góp phần chuẩn hóa nội dung giảng dạy và nâng cao chất lượng học phần.

Thứ ba, nâng cao nhận thức và thái độ học tập của người học: Khi rào cản chi phí được gỡ bỏ, sinh viên có xu hướng tiếp cận môn học với tâm thế tích cực hơn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục về quốc phòng và an ninh – một nội dung có ý nghĩa chính trị, xã hội quan trọng.

Tuy nhiên, cần lưu ý một số vấn đề đặt ra. Chính sách phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách Nhà nước và sẽ triển khai theo lộ trình, không thể thực hiện đồng loạt ngay lập tức.

Cần cơ chế kiểm soát chất lượng giáo trình và tổ chức đào tạo, tránh tâm lý “miễn phí thì giảm giá trị”. Một số chi phí khác như ăn ở, sinh hoạt khi học tập trung vẫn có thể tiếp tục là gánh nặng đối với sinh viên nếu chúng ta không có các giải pháp hỗ trợ đồng bộ.

“Về mặt tổng thể, miễn phí sách giáo khoa phổ thông cũng như giáo trình môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh cho sinh viên là chính sách mang tính nhân văn và hợp lý, nhưng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc vào cách thức triển khai, đặc biệt là cơ chế tài chính, quản trị giáo trình và tổ chức đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học”, TS Đỗ Thị Minh Phượng chia sẻ.

“Giáo dục không chỉ là truyền đạt tri thức, mà còn là quá trình hình thành nhân cách, năng lực và giá trị sống. Vì vậy, những quyết sách nếu được xây dựng theo hướng nhân văn, bền vững, gắn với thực tiễn sẽ tạo ra những chuyển biến rõ nét và lâu dài. Tôi tin rằng, với sự quan tâm và trách nhiệm của Quốc hội, cùng sự đồng hành của toàn xã hội, giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển tích cực trong thời gian tới”, TS Nguyễn Minh Giám chia sẻ.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ