Tham dự buổi làm việc, về phía Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội có ông Nguyễn Đắc Vinh - Chủ nhiệm Ủy ban; các Phó Chủ nhiệm Triệu Thế Hùng, Lâm Văn Đoan; các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách thuộc Ủy ban cùng lãnh đạo, chuyên viên Vụ Văn hóa và Xã hội, Văn phòng Quốc hội.
Về phía Bộ GD&ĐT có Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn; Thứ trưởng Lê Quân cùng lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ.
Triển khai đồng bộ các chính sách lớn, thúc đẩy đổi mới giáo dục
Báo cáo về thực hiện các nghị quyết, kết luận giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Mai Thị Anh - Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ GD&ĐT) cho biết: Đến năm học 2025-2026, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã được triển khai đầy đủ từ lớp 1 đến lớp 12 theo đúng lộ trình. Bộ GD&ĐT đã hoàn thành thẩm định, phê duyệt sách giáo khoa các lớp; hướng dẫn đổi mới kiểm tra, đánh giá; ban hành quy chế thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025; đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế lựa chọn, quản lý và sử dụng sách giáo khoa theo hướng công khai, minh bạch.
Về đội ngũ, Chính phủ đã giao bổ sung đủ 65.980 biên chế giáo viên cho các địa phương giai đoạn 2022-2026; từ năm 2022 đến nay, các địa phương đã tuyển dụng được gần 60.000 giáo viên. Bộ cũng đã trình và Chính phủ ban hành Nghị định số 182/2026/NĐ-CP về phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên và cải thiện chính sách đối với nhà giáo.
Đối với Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15 về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, Bộ đã tham mưu nhiều chính sách mới liên quan đến giáo dục nghề nghiệp, hỗ trợ người học, tín dụng đối với sinh viên các ngành STEM, học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Bộ cũng đang tiếp tục xây dựng Chiến lược phát triển nguồn nhân lực, Quỹ học bổng quốc gia và các đề án đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, điện hạt nhân.
Về triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035, Bộ GD&ĐT đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết số 103/NQ-CP triển khai Nghị quyết số 249/2025/QH15 của Quốc hội. Hiện nay, Bộ đang hoàn thiện hồ sơ thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình, Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi; đồng thời tổng hợp nhu cầu đầu tư của các địa phương để hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2026-2030.
Tuy nhiên, tiến độ tổng hợp nhu cầu đầu tư còn khó khăn do số địa phương gửi đề xuất chưa đầy đủ, trong khi thời gian hoàn thiện hồ sơ rất gấp. Việc xây dựng nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương cũng đang cần được khẩn trương hoàn thiện để bảo đảm Chương trình được phê duyệt và triển khai đúng tiến độ.
Về triển khai các luật, nghị quyết mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua các luật, nghị quyết mới, Bộ đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành các kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học; Luật Giáo dục nghề nghiệp và Nghị quyết số 248/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Về văn bản quy định chi tiết, Bộ được giao xây dựng 41 văn bản, gồm 11 nghị định và 30 thông tư. Tính đến ngày 5/6/2026, đã ban hành 26/41 văn bản và đang tiếp tục hoàn thiện 15 văn bản còn lại. Một số chính sách lớn đã được ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền, như chính sách phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhà giáo; chính sách miễn, hỗ trợ học phí cho học sinh mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên; chính sách học bổng, tín dụng đối với người học; cơ chế tự chủ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Cùng với đó, nhiều chính sách mới đã bắt đầu đi vào thực tiễn. Chính sách miễn, hỗ trợ học phí từ năm học 2025-2026 nhận được sự đồng thuận cao của xã hội, góp phần giảm gánh nặng cho người dân và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Chủ trương sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc từ năm học 2026-2027 đã được chuẩn bị. Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được ban hành với lộ trình dài hạn đến năm 2035, tầm nhìn 2045. Việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, giáo dục STEM/STEAM, xử lý chuyển tiếp khi kết thúc hoạt động của hội đồng trường và chuyển đổi số trong giáo dục cũng được triển khai đồng bộ.
Đặc biệt, trong chuyển đổi số, ngành Giáo dục đã hình thành các cơ sở dữ liệu lớn, số hóa hàng chục triệu hồ sơ người học, nhà giáo, học bạ số, văn bằng số; kết nối, đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID. Đây là nền tảng quan trọng để quản lý, dự báo và hoạch định chính sách giáo dục dựa trên dữ liệu.
Đề xuất tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện thể chế và bảo đảm nguồn lực
Chia sẻ một số khó khăn, vướng mắc, Bộ GD&ĐT đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục quan tâm giám sát việc thực hiện các luật, nghị quyết, kết luận giám sát trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; ưu tiên giám sát các chính sách lớn về nhà giáo, học phí, sách giáo khoa, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển đổi số và Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục.
Đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp chặt chẽ với Bộ GD&ĐT để hoàn thiện, ban hành kịp thời các văn bản còn lại, nhất là chính sách tiền lương, phụ cấp, hỗ trợ nhà giáo; miễn phí sách giáo khoa; miễn học phí, giáo trình môn Giáo dục quốc phòng và an ninh; tín dụng giáo dục và cơ chế tài chính cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Đề nghị quan tâm bố trí đủ nguồn lực cho giáo dục và đào tạo trong kế hoạch tài chính, ngân sách Nhà nước và đầu tư công trung hạn; ưu tiên cho vùng khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời bảo đảm kinh phí thực hiện các chính sách miễn, hỗ trợ học phí, hỗ trợ sách giáo khoa, dạy học 2 buổi/ngày, đầu tư trường lớp, thiết bị dạy học và chuyển đổi số.
Đề nghị Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan tiếp tục phối hợp tháo gỡ khó khăn về biên chế giáo viên, cơ chế tài chính, thẩm định văn bản, kết nối dữ liệu và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục rà soát, hoàn thiện văn bản thuộc thẩm quyền; chủ động bố trí nguồn lực địa phương; tuyển dụng đủ biên chế giáo viên đã được giao; rà soát quỹ đất giáo dục, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nhu cầu đầu tư và báo cáo kịp thời khó khăn, vướng mắc để Bộ tổng hợp, hướng dẫn hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
Về phía Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách; đôn đốc ban hành các văn bản còn lại; triển khai hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018, bộ sách giáo khoa thống nhất, chính sách nhà giáo, người học, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ, thống nhất, khả thi và không để phát sinh khoảng trống pháp lý.
Chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển trong giáo dục
Tại buổi làm việc, hai cơ quan cùng trao đổi, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo; đồng thời nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Trên cơ sở đó, các bên cùng thảo luận, đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Nguyễn Đắc Vinh cho biết, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được Chủ tịch Quốc hội giao về giám sát việc triển khai các Nghị quyết số 71, 72 và 80 của Bộ Chính trị, Ủy ban đặc biệt quan tâm đến việc hiện thực hóa các nhiệm vụ, giải pháp đã được đề ra.
Đối với Nghị quyết số 71-NQ/TW, ông Nguyễn Đắc Vinh cho rằng cần nhìn từ góc độ giải pháp, tập trung vào cách làm để thực hiện hiệu quả yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và hành động quyết liệt.
Về kiến tạo phát triển, theo ông Nguyễn Đắc Vinh, cần tập trung vào ba nội dung lớn: xây dựng chiến lược phát triển giáo dục; hình thành các mô hình giáo dục mới; đồng thời hoàn thiện hệ thống quy định, tiêu chuẩn, tiêu chí, hướng dẫn và quy chế nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục.
Đề cập đến yêu cầu quản trị hiện đại, ông Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh nền tảng quan trọng nhất là hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ, kết nối liên thông cùng hệ thống quản lý, điều hành hiện đại.
Ông cho rằng ngành Giáo dục hiện đã có nền tảng dữ liệu khá tốt và không phải bắt đầu từ con số không. Vấn đề hiện nay là tiếp tục hoàn thiện và khai thác hiệu quả các nền tảng đã được xây dựng.
Đối với yêu cầu hành động quyết liệt, ông nhấn mạnh hai yếu tố cốt lõi là tiến độ và chất lượng. Trong bối cảnh ngành Giáo dục đang triển khai khối lượng công việc rất lớn, việc bảo đảm tiến độ là thách thức không nhỏ. Vì vậy, cần tiếp tục nỗ lực để vừa bảo đảm tiến độ, vừa giữ vững chất lượng thực hiện.
Về hoàn thiện thể chế, ông Nguyễn Đắc Vinh nhận định hệ thống pháp luật về giáo dục đến nay cơ bản đã được hoàn thiện. Trọng tâm hiện nay là tổ chức thực thi hiệu quả các luật và nghị quyết của Quốc hội.
Theo đó, Bộ GD&ĐT cần phân công rõ trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân trong việc triển khai các chính sách mới; đồng thời chủ động tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với những vấn đề liên ngành phát sinh trong quá trình thực hiện.
Những vấn đề liên quan đến giáo dục toàn diện, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), đội ngũ nhà giáo, kiên cố hóa trường học và giáo dục nghề nghiệp cũng được ông Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh tại buổi làm việc.
Theo ông, ngành Giáo dục cần tiếp tục quan tâm xây dựng văn hóa học đường; sớm hoàn thiện các quy định về ứng dụng AI trong giáo dục, phát triển hạ tầng và nền tảng số phục vụ dạy học. Bên cạnh đó, cần đánh giá thực chất đội ngũ nhà giáo để có giải pháp tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng phù hợp; triển khai hiệu quả Đề án kiên cố hóa trường học và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng gắn với nhu cầu thị trường lao động.
Riêng giáo dục phổ thông hiện nay, ông Nguyễn Đắc Vinh cho rằng đây là lĩnh vực có thể tạo được sự yên tâm nhất trong hệ thống giáo dục.
Ông dẫn chứng, học sinh Việt Nam đang học phổ thông khi chuyển sang học tập ở nước ngoài có thể hòa nhập nhanh; học sinh tốt nghiệp THPT cũng có thể tiếp tục học tập tại nhiều trường đại học quốc tế. Đây là minh chứng cho thấy chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam cơ bản đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Tuy nhiên, theo ông, ngành Giáo dục vẫn cần tiếp tục nâng cao chất lượng, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, đồng thời chú trọng hơn đến giáo dục văn hóa, đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh.
Sử dụng hiệu quả và bảo đảm nguồn lực triển khai các chính sách giáo dục
Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn trân trọng cảm ơn sự đồng hành, ủng hộ của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đối với ngành Giáo dục trong thời gian qua, đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các luật, nghị quyết quan trọng liên quan đến giáo dục và đào tạo.
Bộ trưởng cho biết, qua báo cáo của Bộ GD&ĐT, báo cáo thẩm tra của Ủy ban và các ý kiến trao đổi tại buổi làm việc, nhiều vấn đề trọng tâm đã được phân tích, đánh giá thẳng thắn. Đặc biệt, các ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Đắc Vinh đã gợi mở nhiều nội dung cần tiếp tục quan tâm trong quá trình triển khai các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục.
Bộ GD&ĐT trân trọng tiếp thu các ý kiến, kiến nghị và sẽ tiếp tục hoàn thiện báo cáo theo hướng ngắn gọn, cô đọng nhưng phản ánh đầy đủ kết quả đạt được cũng như những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
Theo Bộ trưởng, sau khi Quốc hội thông qua 4 luật trong lĩnh vực giáo dục, ngành Giáo dục đã khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống nghị định, thông tư và văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời triển khai nhiều đề án lớn ở các cấp học. Trong thời gian ngắn, Bộ GD&ĐT đã đồng thời thực hiện khối lượng rất lớn công việc xây dựng thể chế và chính sách.
Sau khi các luật và nghị quyết mới được ban hành, nhiều chính sách lớn của ngành Giáo dục đã bắt đầu phát huy hiệu quả và tác động trực tiếp đến người học, đội ngũ nhà giáo, tạo hiệu ứng rất rõ rệt trong thực tiễn. Thách thức lớn hiện nay là bảo đảm nguồn lực để triển khai các chủ trương, chính sách đã được ban hành. Vấn đề đặt ra không chỉ là triển khai nhanh các chủ trương, chính sách mà còn phải bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực, đáp ứng các mục tiêu mà Đảng, Quốc hội đã đề ra.
Trong phát biểu, Bộ trưởng cũng nhấn mạnh các nội dung cụ thể liên quan đến giáo dục phổ thông; mở rộng cơ hội học tập để giảm áp lực thi cử, phân luồng trên cơ sở tạo điều kiện để học sinh lựa chọn con đường phù hợp; tăng cường giáo dục đạo đức, xử lý bạo lực học đường và bảo vệ học sinh trên môi trường số...
Bộ trưởng cho rằng việc xử lý các hành vi ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường học tập cần đặt trong mục tiêu bảo vệ quyền lợi của số đông học sinh. Đồng thời, cần nghiên cứu các giải pháp kiểm soát phù hợp việc tiếp cận mạng xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên, coi đây là biện pháp bảo vệ sự phát triển của các em trước những tác động tiêu cực từ không gian mạng. Bên cạnh đó, ngành Giáo dục sẽ tiếp tục rà soát, giảm các hoạt động mang tính hình thức để giáo viên tập trung cho nhiệm vụ chuyên môn.
Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Bộ trưởng nhấn mạnh cần đẩy mạnh đào tạo mới, đào tạo lại lực lượng lao động; tiếp tục phát huy hiệu quả của cơ chế tự chủ đại học; tập trung đầu tư các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm và hình thành một số trường đại học dẫn dắt có tầm quốc tế. Theo Bộ trưởng, thách thức lớn nhất hiện nay của giáo dục đại học Việt Nam không phải ở đào tạo mà ở năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, lĩnh vực cần được đầu tư mạnh mẽ trong dài hạn.
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn kiến nghị Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tiếp tục quan tâm hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách liên quan đến giáo dục và đào tạo, đồng thời rà soát các quy định trong những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến ngành; tăng cường giám sát việc bảo đảm các điều kiện thực hiện chính sách giáo dục và việc thực hiện quy định dành tối thiểu 20% chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục và đào tạo, đồng thời quan tâm cơ cấu nguồn lực hợp lý hơn cho giáo dục đại học nhằm tạo điều kiện phát triển các cơ sở đào tạo trọng điểm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia…