Đề xuất hướng mới trong hợp tác giáo dục Việt Nam - Liên bang Nga

GD&TĐ - Hợp tác giáo dục Việt Nam - LB Nga được định hướng chuyển mạnh sang đặt hàng nhân lực, nghiên cứu chung, chuyển giao và làm chủ công nghệ.

Hợp tác giáo dục Việt Nam - Liên bang Nga có nền tảng lâu dài, đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, cần chuyển mạnh từ hoạt động hợp tác truyền thống sang các chương trình có mục tiêu, sản phẩm và đầu ra cụ thể.

Trong đó, sử dụng hiệu quả 1.000 chỉ tiêu học bổng hằng năm, xây dựng chương trình hợp tác giáo dục đại học và phát triển nguồn nhân lực đến năm 2035, thúc đẩy nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ và hoàn thiện cơ chế trao đổi chuyên gia được Bộ GD&ĐT xác định là những hướng đi quan trọng.

img-4972.jpg
Các đại biểu dự Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học Việt Nam - Liên bang Nga lần thứ ba.

Từ cấp học bổng đến đặt hàng nguồn nhân lực

Theo Hiệp định hợp tác về giáo dục đại học giữa hai nước, phía Nga cấp 1.000 suất học bổng mỗi năm cho công dân Việt Nam theo học trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, thực tập tại các cơ sở giáo dục đại học của Nga.

Bộ GD&ĐT đề xuất cùng phía Nga từng bước chuyển từ mô hình chủ yếu “cấp chỉ tiêu - tuyển sinh - cử đi học” sang mô hình xác định nhu cầu nhân lực - lựa chọn ngành/trường đào tạo - đào tạo theo đặt hàng - kết nối sử dụng sau đào tạo.

Trước mỗi kỳ tuyển sinh, hai bên thống nhất danh mục các lĩnh vực ưu tiên trên cơ sở nhu cầu của Việt Nam và thế mạnh của Nga.

Trước mắt, các lĩnh vực được xác định gồm năng lượng hạt nhân và công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình; đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao, giao thông thông minh và logistics; trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, an ninh mạng, viễn thông thế hệ mới; bán dẫn, tự động hóa, robot và phương tiện tự hành.

Cùng với đó là các lĩnh vực địa chất, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản, dầu khí và năng lượng; vật liệu tiên tiến, quang học - quang tử; hàng không, vệ tinh và công nghệ vũ trụ; cùng các ngành khoa học cơ bản và công nghệ nền tảng.

Để tăng khả năng tiếp cận, phía Nga được đề nghị mở rộng các chương trình hoặc học phần đào tạo bằng tiếng Anh, song ngữ, nhất là đối với chương trình sau đại học, thực tập và nghiên cứu ngắn hạn; cung cấp sớm danh mục trường, ngành và chương trình có thể tiếp nhận ứng viên Việt Nam để phía Việt Nam chủ động tuyển chọn.

Đối với tuyển sinh năm 2026, Bộ GD&ĐT đề nghị phía Nga ưu tiên hoàn tất việc xem xét các hồ sơ đủ điều kiện còn lại để hạn chế việc chỉ tiêu đã dành cho Việt Nam nhưng không được sử dụng hiệu quả.

Chuyển từ ký kết sang cùng nghiên cứu, làm chủ công nghệ

Một định hướng quan trọng khác được Bộ GD&ĐT đề xuất là xây dựng Chương trình hợp tác giáo dục đại học và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn 2027-2035, thay cho cách triển khai phân tán theo từng hoạt động riêng lẻ.

Chương trình cần xác định các lĩnh vực ưu tiên; nhu cầu nhân lực và chỉ tiêu đào tạo; các trường đại học đầu mối của hai nước; chương trình đào tạo chung, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và trao đổi giảng viên; các chương trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ; cơ chế huy động nguồn lực nhà nước, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; các chỉ tiêu đầu ra có thể định lượng và cơ chế rà soát hằng năm.

Khóa họp tiếp theo của cơ chế hợp tác liên Bộ dự kiến cuối năm 2026 có thể được sử dụng để thống nhất nội dung và lộ trình xây dựng chương trình.

img-5007.jpg
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân phát biểu khai mạc “Ngày hội Giáo dục đại học Liên bang Nga”.

Nhấn mạnh chuyển trọng tâm từ ký kết thỏa thuận sang các chương trình nghiên cứu chung, chuyển giao và làm chủ công nghệ, Bộ GD&ĐT đề nghị hai bên lựa chọn một số chương trình hợp tác trọng điểm làm “dự án mẫu” trong giai đoạn đầu, không mở rộng dàn trải.

Mỗi chương trình cần có sự tham gia của ít nhất một cơ sở giáo dục, nghiên cứu chủ chốt của mỗi nước; đối với các lĩnh vực có khả năng ứng dụng, có sự tham gia của doanh nghiệp.

Điểm quan trọng là mỗi chương trình phải xác định rõ sản phẩm đầu ra, như chương trình đào tạo, nhóm nghiên cứu chung, phòng thí nghiệm, công nghệ, quy trình, bằng sáng chế, sản phẩm thử nghiệm hoặc giải pháp được ứng dụng tại Việt Nam.

Bộ GD&ĐT cho biết, sẽ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan nghiên cứu cơ chế đồng tài trợ phù hợp cho các nhiệm vụ nghiên cứu chung; đồng thời sử dụng các mạng lưới đại học Việt - Nga hiện có làm nền tảng để lựa chọn và tổ chức thực hiện các dự án.

Định hướng tổng thể là từng bước chuyển mô hình hợp tác từ “trao đổi đoàn - cấp học bổng - ký biên bản ghi nhớ” sang “đặt hàng nhân lực - đồng nghiên cứu - tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ công nghệ - thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa kết quả”.

Hoàn thiện cơ chế trao đổi chuyên gia, giảng viên

Cùng với đào tạo và nghiên cứu, cơ chế trao đổi chuyên gia, giảng viên hai chiều được xác định là một cấu phần cần tiếp tục hoàn thiện trong quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Liên bang Nga.

Trên cơ sở dự thảo Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác giáo dục đại học đã được Bộ GD&ĐT chuyển phía Nga ngày 24/8/2026, phía Việt Nam đề nghị phía Nga sớm có ý kiến chính thức để hai bên tiến hành đàm phán.

Mục tiêu là hình thành cơ chế thường xuyên để Nga cử giáo viên, giảng viên, chuyên gia sang Việt Nam giảng dạy, đào tạo và tham gia nghiên cứu; đồng thời Việt Nam cử giảng viên, nhà khoa học sang Nga học tập, nghiên cứu, thực tập và làm việc trong các nhóm nghiên cứu.

Hằng năm, hai bên sẽ thống nhất nhu cầu, lĩnh vực, số lượng, thời gian và cơ sở tiếp nhận; trước mắt ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam đang có nhu cầu cấp thiết và Nga có thế mạnh.

Trường hợp quá trình đàm phán đạt tiến triển phù hợp, có thể xem xét Nghị định thư là một trong các văn kiện hợp tác cần thúc đẩy nhân dịp trao đổi đoàn cấp cao.

Nếu chưa đủ điều kiện ký, Bộ GD&ĐT đề nghị hai bên thống nhất ở cấp cao về thời hạn hoàn tất trong năm 2026.

Có thể thấy, chuyển hợp tác giáo dục Việt Nam - Liên bang Nga từ cách triển khai theo từng hoạt động riêng lẻ sang hợp tác có trọng tâm, gắn đào tạo với nhu cầu nguồn nhân lực, đẩy mạnh nghiên cứu chung, chuyển giao và làm chủ công nghệ là hướng đi phù hợp. Theo đó, hợp tác không chỉ dừng ở đào tạo, trao đổi và ký kết thỏa thuận, mà hướng tới những chương trình có đầu ra cụ thể, tăng cường kết nối giữa cơ sở giáo dục, nghiên cứu với doanh nghiệp và khả năng ứng dụng kết quả tại Việt Nam.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ