Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ sang mô hình dựa vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ đó, một vấn đề đặt ra: làm thế nào để những nguồn lực mới thực sự tạo ra giá trị cho nền kinh tế?
Đây cũng là vấn đề được nhấn mạnh tại nhiều tham luận trong Hội thảo khoa học Quốc gia: “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp cùng Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào sáng 20/8 tại Hà Nội.
Tăng trưởng cần một động lực mới
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Đại học Kinh tế Quốc dân, trong những giai đoạn trước, tăng trưởng của Việt Nam từng dựa nhiều vào tài nguyên, lao động giá rẻ; sau đó chuyển sang thu hút FDI và tham gia gia công. Trong khi đó, giá trị gia tăng do doanh nghiệp trong nước tạo ra còn thấp, các ngành sử dụng nhiều lao động vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể.
Việt Nam đang chuyển sang mô hình dựa vào hiệu quả và năng suất. Tuy nhiên, PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng đóng góp của năng suất vẫn còn hạn chế, trong khi tốc độ tăng năng suất còn thấp. Để đạt tốc độ tăng trưởng cao đến năm 2045, mô hình tăng trưởng cần chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một yêu cầu quan trọng là Việt Nam phải tạo ra những giá trị đặc thù do chính mình tạo ra, thay vì chỉ tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
Ảnh: Thành Đạt (Báo Nhân Dân)
Ông đề xuất 7 yếu tố cho mô hình phát triển mới, trong đó có nguồn nhân lực và năng lực mới, với yêu cầu đầu tư cho giáo dục, kỹ năng, mua sắm công nghệ và nghiên cứu, phát triển. Cùng với đó là tăng cường liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp và khu vực công nghệ; xây dựng chính sách công nghiệp có trọng tâm; phát triển hạ tầng số và mở cửa có chiến lược, gắn thu hút FDI với liên kết trong nước.
Như vậy, khoa học công nghệ không chỉ là một lĩnh vực cần đầu tư, mà phải trở thành một phần của quá trình nâng cấp mô hình tăng trưởng.
Từ lao động giá rẻ đến lao động sáng tạo
Nếu khoa học công nghệ là động lực mới, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định khả năng làm chủ và phát huy động lực đó.
PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần chuyển từ mô hình kinh tế dựa nhiều vào lao động chân tay sang lao động trí óc, lao động sáng tạo. Theo ông, những lợi thế từng giúp nền kinh tế tăng trưởng trong giai đoạn trước, trong đó có lao động giá rẻ, đang bộc lộ giới hạn.
“Thời đại mới đang chuyển đổi từ lao động chân tay sang lao động trí óc, lao động sáng tạo. Doanh nghiệp phải là trung tâm của công cuộc đổi mới”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Ảnh: Thành Đạt (Báo Nhân Dân)
Quan điểm này đặt yêu cầu về nguồn nhân lực trong mối quan hệ trực tiếp với đổi mới mô hình phát triển. Không chỉ cần lao động có trình độ, nền kinh tế cần lực lượng có khả năng thích ứng với công nghệ, sáng tạo và tạo ra giá trị mới.
PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn cũng xác định nguồn nhân lực và năng lực mới là một trong những yếu tố cấu thành mô hình phát triển mới. Theo ông, giáo dục, kỹ năng và nghiên cứu, phát triển cần được đầu tư để tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo.
Điều này đồng thời đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp. Nếu tiếp tục cạnh tranh chủ yếu bằng chi phí lao động thấp, khả năng tạo giá trị gia tăng cao sẽ bị giới hạn. Doanh nghiệp cần trở thành chủ thể của đổi mới, qua đó tạo nhu cầu về nhân lực sáng tạo, công nghệ và năng lực quản trị mới.
Đo khoa học công nghệ bằng giá trị và hiệu quả
Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là: sau khi đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, giá trị thực tế tạo ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế là gì?
PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, Giảng viên cao cấp, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết nhóm nghiên cứu của bà phân tích 31 doanh nghiệp tại 7 tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, với dữ liệu giai đoạn 2015-2024. Kết quả cho thấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tác động trực tiếp để tạo ra tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp.
Theo bà, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về kỹ năng quản trị, thông tin tiếp cận chính sách và nguồn lực nghiên cứu. Việc tiếp cận các chương trình khoa học công nghệ có độ trễ; thủ tục phức tạp, thiếu kiến thức pháp luật và tâm lý ngại rủi ro cũng khiến doanh nghiệp khó tận dụng các cơ hội đầu tư cho đổi mới sáng tạo.
Từ thực tế này, PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thiết thực hơn, nhất là giảm chi phí logistics, chuyển đổi số và hạ tầng; đồng thời tăng khả năng tiếp cận thông tin và các chương trình hỗ trợ. Nhà nước cần đóng vai trò giảm rủi ro, kích hoạt vốn đầu tư tư nhân.
Đáng chú ý, bà đề nghị chuyển quản lý khoa học công nghệ từ đánh giá đầu vào sang đánh giá hiệu quả thực tế. Không chỉ nhìn vào số lượng đề tài, báo cáo hay chương trình nghiên cứu, cần quan tâm đến kết quả và số doanh nghiệp thực sự hấp thụ được thành quả khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Có thể thấy, đổi mới mô hình phát triển không thể chỉ dừng ở việc tăng nguồn lực cho khoa học công nghệ. Nguồn lực ấy phải được kết nối thành một chuỗi từ con người, đến công nghệ, doanh nghiệp và cả giá trị.
Khi tri thức và công nghệ được chuyển hóa thành năng suất cao hơn, năng lực cạnh tranh tốt hơn và giá trị gia tăng lớn hơn, khoa học công nghệ mới thực sự trở thành động lực của mô hình phát triển mới.