Từ xa xưa, làng Dọ (Uông Hạ) thuộc xã Thái Tân, thành phố Hải Phòng đã được biết đến là vùng đất của nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng về đạo học, đạo làm người, đạo làm quan và lối ứng xử quân tử theo triết lý Nho gia.
Tinh thần hiếu học giữa vùng đất trũng
Theo các nguồn sử địa chí, Uông Hạ là một làng cổ nằm ở hạ lưu sông Thái Bình, trước đây có tên gọi là Giang Hạ, trong dân gian quen gọi là làng Dọ. Tên gọi này xuất phát từ đặc điểm địa hình thấp trũng của địa phương.
Trước khi hệ thống đê điều được hình thành, vào mỗi mùa mưa lũ, nước từ các vùng đổ về khiến làng thường xuyên bị ngập. Giao thông đi lại khi đó hết sức khó khăn, cả làng chỉ có một lối vào, không có đường thông ra ngoài, người dân chủ yếu di chuyển bằng thuyền nan. Điều kiện sinh hoạt đặc thù ấy đã hình thành nên tên gọi nôm “làng Dọ” lưu truyền trong dân gian.
Sang thế kỷ XIX, Uông Hạ là một xã thuộc tổng Thượng Triệt, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Làng được chia thành bốn xóm: Đông, Chùa, Đậu và Giữa. Dân cư quần tụ ở bốn phía, còn khu vực trung tâm là một cánh đồng rộng, nổi bật với ba gò đất cao mang tên Đống Đường, Đống Ỷ và Đống Sen.
Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, đất đai thấp trũng và thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập lụt, trước đây, người dân Uông Hạ mỗi năm chỉ canh tác được một vụ lúa, đời sống còn nhiều khó khăn. Ngoài nghề trồng lúa, vào thời gian nông nhàn, người dân trong làng còn gắn bó với các nghề phụ như đánh bắt cá, dệt chiếu cói, dệt vải… nhằm cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.
Tuy nhiên, Uông Hạ xưa lại nổi tiếng trong vùng xứ Đông bởi truyền thống hiếu học và hệ thống di tích tín ngưỡng phong phú, gồm ba ngôi đình và một ngôi chùa. Trong đó, đình Tả là nơi thờ Thành hoàng làng - Trạng nguyên Trần Quốc Lặc, đồng thời thờ vọng chín vị Tiến sĩ của địa phương.
Đình Hữu, trước đây tọa lạc tại xóm Giữa (nay không còn), thờ vị thiên thần Ngũ Đạo Lộ Đống Táo Đại vương, người được truyền tụng có công âm phù danh tướng Lý Thường Kiệt trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành dưới triều Lý vào thế kỷ XI. Đình Cả nằm ở xóm Đậu, giữ vai trò là không gian trung gian, kết nối sinh hoạt tín ngưỡng giữa đình Tả và đình Hữu. Ngoài ra, làng còn có ngôi chùa chung đặt tại xóm Chùa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của cộng đồng.
Hằng năm, vào ngày 12 tháng Giêng, làng Uông Hạ tổ chức lễ hội truyền thống. Trong ngày hội, dân làng long trọng rước sắc phong các vị Thành hoàng từ đình Tả sang đình Hữu, qua đình Cả, rồi lại rước về đình Tả, tái hiện không gian văn hóa tâm linh đặc trưng, góp phần gắn kết cộng đồng và gìn giữ những giá trị truyền thống lâu đời.
Dù từng là vùng đồng chiêm trũng, đời sống người dân gặp nhiều gian khó, Uông Hạ vẫn sớm hình thành tinh thần hiếu học và ý chí vươn lên bền bỉ. Truyền thống ấy được kết tinh rõ nét ở danh nhân Trần Quốc Lặc - người đã vượt lên hoàn cảnh nghèo khó, đỗ Kinh Trạng nguyên khoa Bính Thìn (1256), dưới triều vua Trần Thái Tông, trở thành niềm tự hào của quê hương Uông Hạ nói riêng và cả phủ Nam Sách nói chung.
Đỗ Trạng nguyên nhờ tinh thần tự trọng
Trạng nguyên Trần Quốc Lặc là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử triều Trần, không chỉ bởi tài năng học vấn, mà còn bởi hoàn cảnh xuất thân và những dấu ấn ông để lại trên chính trường đương thời. Ông sinh năm 1230 tại làng Uông Hạ, huyện Thanh Lâm (khi đó thuộc châu Thượng Hồng). Xuất thân trong một gia đình nghèo nhưng hiếu học, Trần Quốc Lặc sớm nổi tiếng thông minh, ham đọc sách và nuôi chí vươn lên bằng con đường khoa cử.
Theo tư liệu lịch sử và các giai thoại dân gian, tuổi thơ của Trần Quốc Lặc gắn với nhiều biến cố, trong đó có câu chuyện mẹ ông mất do sét đánh, khiến gia đình phải chịu không ít điều tiếng trong làng xã. Những thử thách khắc nghiệt ấy được cho là đã hun đúc ở ông tinh thần tự trọng, ý chí học tập bền bỉ và khát vọng khẳng định lẽ phải bằng tri thức. Nhờ sự chuyên cần và nghị lực hiếm có, Trần Quốc Lặc từng bước khẳng định tài năng trên con đường đèn sách.
Năm Bính Thìn (1256), dưới triều vua Trần Thái Tông, triều đình mở một khoa thi đặc biệt khi cùng lúc lấy hai Trạng nguyên. Trần Quốc Lặc đỗ Kinh Trạng nguyên, còn Trương Xán đỗ Trại Trạng nguyên.
Cách phân chia Kinh – Trại phản ánh tổ chức khoa cử thời Trần nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các vùng miền. Việc đứng đầu bảng Kinh cho thấy học vấn xuất sắc và vị thế nổi bật của Trần Quốc Lặc trong hàng ngũ sĩ tử đương thời, đồng thời đưa ông trở thành Trạng nguyên đầu tiên của vùng đất Hải Dương xưa.
Sau khi đỗ đạt, Trần Quốc Lặc được triều đình trọng dụng, từng bước tham gia bộ máy quan lại nhà Trần và làm quan đến chức Thượng thư. Với tài năng và đức độ, ông được vua Trần Thái Tông đặc biệt tin cậy; theo sử liệu và truyền thống lưu truyền, nhà vua đã gả công chúa Bình Lương cho ông, thể hiện sự coi trọng đối với vị Trạng nguyên xuất thân từ dân gian.
Không chỉ giữ trọng trách trong triều, Trần Quốc Lặc còn được cử làm chánh sứ sang nhà Tống, đảm nhiệm nhiệm vụ ngoại giao quan trọng trong bối cảnh bang giao đương thời, qua đó khẳng định ông là một trí thức toàn diện, vừa giỏi văn trị, vừa vững vàng về bản lĩnh chính trị.
Trong chuyến đi sứ sang nhà Tống, đúng dịp triều đình phương Bắc mở khoa thi, Trần Quốc Lặc tiếp tục dự thi và theo truyền tụng đã đỗ Trạng nguyên, từ đó được tôn xưng là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Tuy nhiên, theo truyền thuyết dân gian, do không chiêu dụ được ông ở lại phục vụ triều đình, nhà Tống đã lập mưu sát hại ông trong một bữa tiệc, diễn ra trước thời điểm đoàn sứ giả Đại Việt rời Mục Nam Quan.
Trong các giai thoại lưu truyền đến ngày nay, Trần Quốc Lặc hiện lên như hình mẫu của bậc sĩ phu coi trọng chữ “tâm” trong học tập và làm người, xem đạo đức là nền tảng của trí tuệ. Hình ảnh của ông không chỉ gắn với vinh quang khoa bảng, mà còn trở thành biểu tượng của hiếu nghĩa, chính trực và ý chí vượt lên nghịch cảnh để phụng sự đất nước. Sau khi qua đời, ông được triều đình phong làm Phúc thần, ban tôn hiệu Mạnh Đạo Đại vương, và được nhân dân nhiều nơi tôn thờ.
Tại quê hương Uông Hạ, dân làng đã lập miếu thờ Trần Quốc Lặc ngay trên nền ngôi nhà cũ của gia đình ông. Theo thời gian, miếu thờ được tôn tạo, mở rộng và trở thành đình Tả của làng. Đến các triều Lê và Nguyễn, ngôi đình nhiều lần được trùng tu với quy mô lớn, kiến trúc ngày càng khang trang, bề thế.
Đặc biệt, dưới triều Nguyễn, các vua Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh và Thành Thái đã ban tổng cộng năm đạo sắc phong, ghi nhận công lao, vị thế lịch sử của Trạng nguyên Trần Quốc Lặc cũng như giá trị văn hóa – tín ngưỡng của di tích.
Mặc dù từng bị phá hủy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đến năm 2001, nhân dân địa phương đã chung tay góp công, góp của dựng lại ba gian đình để thờ Trạng nguyên Trần Quốc Lặc, công chúa Bình Lương và các vị Tiến sĩ của làng. Ban quản lý di tích thường xuyên gìn giữ, tu bổ không gian thờ tự, đồng thời duy trì lễ hội truyền thống vào các ngày 11 và 12 tháng Giêng hằng năm, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của địa phương.
Trải qua hơn bảy thế kỷ, Trạng nguyên Trần Quốc Lặc vẫn được người dân tôn kính như biểu tượng tiêu biểu của trí tuệ, nhân nghĩa và truyền thống hiếu học bền bỉ của vùng đất xứ Đông.
Các vị đại khoa làng Dọ
Nối tiếp mạch nguồn khoa bảng và truyền thống hiếu học khởi nguồn từ Trạng nguyên Trần Quốc Lặc, qua các triều Lê sơ, Mạc và Lê trung hưng, làng Uông Hạ tiếp tục ghi dấu ấn với chín người đỗ đại khoa, được sử sách ghi nhận và nhân dân địa phương tôn kính. Tiêu biểu trong số đó là Nguyễn Tuyên Cần (1461 – 1543). Năm 1487, khi mới 27 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức, vào thời kỳ nền khoa cử Nho học Đại Việt đang phát triển rực rỡ.
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Tuyên Cần được triều đình bổ nhiệm giữ chức Hữu Thị lang bộ Hình. Ông được đánh giá là vị quan cẩn trực, thanh liêm, luôn tận tụy với công việc và trách nhiệm được giao.
Dù không để lại trước tác lớn, tên tuổi Nguyễn Tuyên Cần vẫn được sử sách nhắc đến như một “bề tôi tiết nghĩa” – cách gọi dành cho những quan lại có phẩm chất mực thước, trung thực và đáng trọng. Sự ghi nhận ấy được thể hiện rõ khi sau khi qua đời, ông được truy tặng chức Thượng thư bộ Lễ và phong tước Thận Lộc hầu.
Tiếp nối Nguyễn Tuyên Cần, làng Uông Hạ còn có Phạm Quảng Hiếu (sinh năm 1447), đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức 21 (1490), làm quan đến chức Hình bộ Hữu Thị lang.
Vương Đức Tập đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499), từng giữ chức Hiến sát sứ; khi qua đời được truy tặng chức Hành khiển. Những tên tuổi ấy tiếp tục khẳng định truyền thống hiếu học, trọng đạo lý và tinh thần phụng sự quốc gia của làng Uông Hạ qua nhiều thế kỷ.
Người thứ năm đỗ đại khoa là Nguyễn Đức Khâm (sinh năm 1470), đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502), làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Sáu mươi năm sau, làng tiếp tục có Vương Duy Thông đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Quang Bảo 9 (1562), giữ chức Hiến sát sứ.
Bên cạnh đó, Uông Hạ còn ghi danh Vũ Sư Tích, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn, niên hiệu Sùng Khang 3 (1568), làm quan đến chức Lại bộ Tả Thị lang, được phong tước Mai Khê bá và từng được cử đi sứ nhà Minh.
Cùng khoa thi này, làng còn có Vương Văn Hội cũng đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Lễ bộ Tả Thị lang. Người thứ chín và cũng là vị đại khoa cuối cùng của làng Uông Hạ là Nguyễn Văn Tín, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức 4 (1652), làm quan đến chức Hàn lâm Hiệu thảo.
Xét về truyền thống dòng họ, Uông Hạ nổi bật với họ Nguyễn Đức, nơi có hai anh em ruột Nguyễn Tuyên Cần và Nguyễn Đức Khâm cùng đỗ đại khoa – một trường hợp hiếm gặp trong lịch sử khoa cử phong kiến.
Thành tích ấy không chỉ làm rạng danh dòng họ, mà còn góp phần khẳng định vị thế của Uông Hạ như một làng khoa bảng tiêu biểu của xứ Đông. Bên cạnh các bậc đại khoa, sử liệu còn cho biết làng Uông Hạ có nhiều người đỗ Trung khoa, Tiểu khoa, cùng đội ngũ thầy đồ, thầy thuốc đông đảo – những trí thức làng xã đã góp phần gìn giữ mạch nguồn học vấn, y đạo và văn hóa truyền thống qua nhiều thế hệ.
Tiếp nối di sản quý báu ấy, ngày nay, Uông Hạ vẫn được nhắc đến như một vùng đất học. Các dòng họ, thôn xóm trong làng duy trì nhiều quỹ khuyến học nhằm động viên, khích lệ con em chăm lo học tập, rèn luyện.
Từ ngôi làng cổ vùng trũng thấp ven sông, nhiều thế hệ người Uông Hạ đã trưởng thành, trở thành đội ngũ trí thức đóng góp trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Dù sinh sống tại quê hương hay làm ăn, công tác ở phương xa, họ vẫn luôn hướng về nguồn cội, chung tay góp công, góp của xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp, xứng đáng với truyền thống khoa bảng lâu đời được hun đúc trên mảnh đất này.
Cuộc đời và sự nghiệp của Trạng nguyên Trần Quốc Lặc đã trở thành hình mẫu tiêu biểu của tầng lớp trí thức Nho học thời Trần, hội tụ đầy đủ tài năng, đức độ và khí tiết của kẻ sĩ. Ông không chỉ là người khai khoa, mà còn là người mở lối cho truyền thống khoa cử của làng Uông Hạ và cả phủ Nam Sách xưa. Bởi vậy, tên tuổi Trần Quốc Lặc không chỉ được ghi chép trong chính sử, mà còn sống động trong ký ức văn hóa dân gian, trở thành biểu tượng bền vững của ý chí học tập, nhân cách thanh cao và tinh thần hiếu học của một trí thức được đào luyện, thấm nhuần tư tưởng giáo dục truyền thống.