Gắn đào tạo với nhu cầu việc làm, sinh kế tại chỗ
Từ thực tiễn nhiều năm làm giáo dục nghề nghiệp, bà Nguyễn Thị Thảo Sương, Trưởng phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng nghề Trà Vinh (tỉnh Vĩnh Long) cho rằng, với vùng khó, mối quan hệ giữa nhà trường, doanh nghiệp và hợp tác xã cần được đặt trong chính quá trình đào tạo, thay vì chỉ là hoạt động hỗ trợ bên ngoài.
Nhà trường đang triển khai hợp tác với doanh nghiệp theo một chuỗi tương đối đầy đủ, gồm khảo sát nhu cầu nhân lực; lấy ý kiến doanh nghiệp về chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo; tổ chức tham quan, trải nghiệm, thực hành, thực tập; kết nối chuyên gia doanh nghiệp với hoạt động đào tạo; tiếp nhận thông tin tuyển dụng và hỗ trợ người học sau tốt nghiệp.
Với hợp tác xã và các cơ sở sản xuất tại địa phương, cách tiếp cận cần sát với đặc điểm sinh kế và quy mô sản xuất. Nhà trường chú trọng xác định nhu cầu nghề gắn với việc làm tại chỗ, nâng năng suất, chuyển đổi phương thức sản xuất và khả năng tự tạo việc làm. Những lĩnh vực như nông nghiệp - thực phẩm, thú y, điện - điện lạnh, cơ khí, công nghệ ô tô, công nghệ thông tin có thể hình thành các mô hình phối hợp phù hợp với từng địa bàn.
Đây là yêu cầu đáng chú ý đối với giáo dục nghề nghiệp ở khu vực còn khó khăn, bởi khả năng tham gia học nghề của người dân không giống nhau. Theo bà Sương, người dân có nhu cầu học nghề nhưng việc dành thời gian đi học có thể đồng nghĩa với giảm một phần thu nhập hằng ngày, phát sinh chi phí đi lại và khó bố trí việc gia đình. Vì vậy, cùng một chương trình nhưng cách tổ chức ở khu vực đô thị và vùng khó không thể hoàn toàn giống nhau.
Trong bối cảnh đó, đào tạo gắn với việc làm tại chỗ, nâng năng suất và khả năng tự tạo việc làm trở thành một hướng được nhà trường chú trọng. Mục tiêu không chỉ là đưa người học đến với một nghề, mà còn phải tính đến khả năng nghề đó phù hợp với điều kiện sản xuất, sinh kế và nhu cầu nhân lực của địa phương.
Một nền tảng khác được bà Sương nhấn mạnh là chất lượng đào tạo. Trường Cao đẳng nghề Trà Vinh đang được đầu tư, nâng cấp theo mục tiêu trường cao đẳng chất lượng cao, đồng thời tập trung nâng cao chất lượng các ngành, nghề trọng điểm.
Đầu năm 2026, bốn chương trình trình độ cao đẳng gồm Công nghệ ô tô, Điện công nghiệp, Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí, Thú y đã được trao chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.
Đây là nền tảng để nhà trường tiếp tục chuẩn hóa chương trình, nâng năng lực nhà giáo, khai thác hiệu quả thiết bị và tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo.
Tháo điểm nghẽn, chuyển từ phối hợp sang đồng kiến tạo
Thực tế hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn gặp những khó khăn nhất định. Chia sẻ của bà Nguyễn Thị Thảo Sương, trước hết là quy mô và năng lực của doanh nghiệp, hợp tác xã trên từng địa bàn chưa đồng đều. Nhiều đơn vị có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động phụ thuộc đơn hàng, mùa vụ hoặc chu kỳ sản xuất nên khả năng dành nhân lực, thiết bị và thời gian để tham gia thường xuyên vào đào tạo còn hạn chế.
Một khó khăn khác đến từ tốc độ thay đổi của công nghệ và yêu cầu kỹ năng. Nếu chương trình đào tạo chỉ được xây dựng dựa trên những gì nhà trường đang có, nguy cơ chậm hơn thị trường là rõ ràng. Vì vậy, cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải duy trì cơ chế cập nhật thường xuyên từ doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm chuẩn đầu ra, tính hệ thống và chất lượng đào tạo.
Từ những điểm nghẽn đó, bà Sương cho rằng, cần chuyển mạnh từ “phối hợp” sang “đồng kiến tạo đào tạo”. Doanh nghiệp cần được tạo điều kiện tham gia từ khâu dự báo nhu cầu nhân lực, xác định chuẩn kỹ năng, góp ý chương trình, tổ chức thực hành đến đánh giá và tuyển dụng. Với các ngành, nghề trọng điểm, mức độ tham gia này càng cần rõ và thường xuyên hơn.
Bên cạnh đó, cần hình thành cơ chế chia sẻ dữ liệu về nhu cầu nhân lực và kỹ năng nghề theo ngành, nghề và theo địa bàn. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ chủ động hơn rất nhiều nếu không chỉ biết doanh nghiệp cần bao nhiêu lao động, mà còn biết trong 2-3 năm tới doanh nghiệp cần người lao động có những năng lực cụ thể nào.
Đối với Trường Cao đẳng nghề Trà Vinh, nguồn lực đầu tư cho mục tiêu trường chất lượng cao cũng được xác định phải khai thác theo hướng mở. Theo đó, nguồn lực này vừa phục vụ đào tạo chính quy, vừa phục vụ đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng cho người lao động và tăng cường liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Bà Sương nhấn mạnh, đầu tư chỉ thực sự có ý nghĩa khi thiết bị được sử dụng hiệu quả, nhà giáo làm chủ công nghệ và người học được thực hành trên công nghệ mà thị trường đang sử dụng.
Từ góc độ của nhà trường, trách nhiệm không chỉ dừng ở đào tạo nhân lực kỹ thuật cho doanh nghiệp mà còn phải mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp có chất lượng cho người học ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn còn khó khăn.
Việc được đầu tư, nâng cấp theo mục tiêu trường cao đẳng chất lượng cao và phát triển các ngành, nghề trọng điểm cần tạo ra hiệu ứng lan tỏa về chất lượng cho toàn bộ hoạt động đào tạo của nhà trường.
Hiệu quả hợp tác không nên đo bằng số biên bản đã ký, mà phải nhìn vào những thay đổi thực chất trong chương trình, thời lượng người học được tiếp cận môi trường sản xuất, mức độ doanh nghiệp tham gia đánh giá kỹ năng và khả năng người học có việc làm hoặc tự tạo việc làm sau đào tạo.