Giữ thương hiệu, nâng giá trị
La Bằng hiện có 1.135,7ha chè, trong đó 1.079,3ha chè kinh doanh và 56,4ha chè kiến thiết cơ bản. Cùng với việc duy trì diện tích, địa phương đang từng bước thay đổi cơ cấu giống nhằm nâng cao năng suất và chất lượng.
Hiện địa phương có 360ha chè được chứng nhận VietGAP, 17ha chè được chứng nhận hữu cơ và 65,31ha được cấp mã số vùng trồng. Đây là nền tảng quan trọng để sản phẩm chè La Bằng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường, nhất là trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc và chất lượng sản phẩm.
Ông Hoàng Hải An, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã La Bằng cho biết, địa phương đã quy hoạch hai vùng chè tập trung gồm Cầu Đá - La Lương, diện tích 79ha và Đồng Tiến - La Cút - La Bằng, diện tích 101ha. Trên địa bàn hiện có 10 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh chè; 28 tổ hợp tác sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và khoảng 160 cơ sở chế biến, kinh doanh chè.
Chè La Bằng đã được cấp nhãn hiệu tập thể “Chè La Bằng” từ năm 2011. Sau hơn một thập kỷ, nhãn hiệu tiếp tục được các hợp tác xã sử dụng, góp phần tạo dựng hình ảnh riêng cho sản phẩm địa phương.
Từ nguyên liệu chè, người dân và các cơ sở sản xuất đã phát triển nhiều dòng sản phẩm như chè Đinh, chè Móc câu, chè Tôm nõn, chè xanh, Hồng trà, Matcha cùng các sản phẩm trà ướp hương bưởi, hương sen.
Đáng chú ý, chương trình OCOP đang tạo thêm động lực để các chủ thể nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã và mở rộng thị trường. La Bằng có 6 sản phẩm chè từng được chứng nhận OCOP. Trong đó, Thanh Hương Trà của HTX Chè Cầu Đá được công nhận OCOP 3 sao năm 2025; Thanh Hải Trà của HTX Chè La Bằng được công nhận OCOP 5 sao vào tháng 4/2026.
Đa dạng giá trị từ cây chè
Một trong những hướng đi mới đang được triển khai tại La Bằng là phát triển các sản phẩm chế biến sâu.
Tại HTX Lạc Yên Trà, vùng nguyên liệu gần 1ha được sử dụng để sản xuất bột Matcha từ giống chè Trung du với phương pháp nghiền bằng cối đá.
Chị Nguyễn Hải Yến, Giám đốc HTX Lạc Yên Trà cho biết, ý tưởng phát triển Matcha bắt đầu sau chuyến thăm Nhật Bản khi còn là sinh viên. Sau thời gian nghiên cứu, thử nghiệm, sản phẩm từng bước được hoàn thiện và đưa ra thị trường.
Hiện HTX cung cấp khoảng 500kg Matcha mỗi tháng, chủ yếu bán lẻ và cung cấp cho các chuỗi đồ uống. Từ nguyên liệu chè, HTX còn phát triển kẹo lạc trà xanh, kẹo dồi trà xanh và tổ chức cho du khách trải nghiệm thu hái, chế biến, thưởng thức Matcha.
Trong khi đó, HTX Chè La Bằng là một trong những mô hình tiêu biểu trong xây dựng chuỗi giá trị. Thành lập từ năm 2006, HTX hiện có 30ha vùng nguyên liệu, trong đó 17ha sản xuất theo hướng hữu cơ, liên kết với gần 200 hộ dân. HTX đang phát triển nhiều dòng sản phẩm giá trị cao, trong đó có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 5 sao.
Theo bà Nguyễn Thanh Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Chè La Bằng thị trường hiện không chỉ quan tâm đến hương vị sản phẩm mà ngày càng đặt yêu cầu cao về chất lượng, quy trình sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc.
"Định hướng của HTX là tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu hữu cơ, duy trì sản phẩm OCOP 5 sao, đồng thời đầu tư công nghệ chế biến, phát triển sản phẩm trên sàn thương mại điện tử và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn". Bà Nguyễn Thanh Hải chia sẻ.
Bên cạnh giá trị kinh tế, La Bằng còn sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt là vùng chè cổ trên núi Tam Đảo với khoảng 22 cây chè cổ. Đây là những cây chè có giá trị về lịch sử, văn hóa, góp phần tạo nên câu chuyện riêng cho thương hiệu chè địa phương.
Từ lợi thế về cảnh quan và nghề trồng chè, La Bằng đang hướng tới kết hợp sản xuất với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm. Du khách có thể tham quan đồi chè, tìm hiểu quá trình trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến và thưởng thức trà.
Theo ông Hoàng Hải An, địa phương xác định chè là cây trồng mũi nhọn và sẽ tập trung chuẩn hóa vùng nguyên liệu, phấn đấu đến năm 2030 có 70% diện tích chè đạt chuẩn VietGAP hoặc hữu cơ và được cấp mã số vùng trồng. Cùng với đó là đẩy mạnh thay thế giống cũ bằng các giống có năng suất, chất lượng cao; khuyến khích ứng dụng máy móc, công nghệ số và truy xuất nguồn gốc.
La Bằng cũng định hướng xây dựng chỉ dẫn địa lý “Chè La Bằng”, lập hồ sơ đề nghị công nhận cây chè cổ là Cây di sản Việt Nam; đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử và qua hình thức livestream.
Từ một ngành sản xuất chủ yếu dựa vào bán chè nguyên liệu, La Bằng đang từng bước hình thành chuỗi giá trị. Với lợi thế về diện tích, truyền thống sản xuất và những sản phẩm đặc trưng, cây chè được kỳ vọng tiếp tục là một trong những trụ cột của kinh tế địa phương.
Hướng đi của La Bằng trong thời gian tới không chỉ là tăng diện tích hay sản lượng, mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị, đưa sản phẩm từ đồi chè đến thị trường bằng chất lượng, thương hiệu và câu chuyện văn hóa. Qua đó, cây chè không chỉ mang lại thu nhập, việc làm cho người dân mà còn góp phần xây dựng diện mạo nông thôn theo hướng xanh, bền vững và giàu bản sắc.