Nỗ lực thực hiện giáo dục bắt buộc ở THCS

GD&TĐ - Chỉ thị số 31/CT-TTg của Thủ tướng về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027 nêu rõ nhiệm vụ thực hiện giáo dục bắt buộc THCS.

Theo Bộ GD&ĐT, năm học 2025-2026, tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học đạt 99,7%; 98,23% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học tiếp tục vào học THCS.

Đến tháng 6/2026, 34/34 tỉnh, thành phố duy trì và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, THCS, cho thấy nền tảng thực hiện giáo dục bắt buộc tiếp tục được giữ vững trên toàn quốc.

Việc nâng chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học cũng có chuyển biến tích cực khi 22/34 tỉnh, thành phố đạt chuẩn mức độ 3, tương đương khoảng 65%. Những kết quả này phản ánh nỗ lực của các địa phương trong huy động trẻ em đến trường, duy trì sĩ số, hạn chế bỏ học, nhất là đối với trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trẻ khuyết tật.

Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận, so với mục tiêu 100% đạt giáo dục tiểu học bắt buộc đến năm 2030, chúng ta còn khoảng cách khá xa. Với THCS, kết quả nâng chuẩn phổ cập giáo dục còn thấp. Đến tháng 6/2026 mới có 7/34 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2; 6/34 tỉnh, thành đạt chuẩn mức độ 3.

Tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học, đi học không đều vẫn còn. Mục tiêu 100% đạt giáo dục THCS bắt buộc đến 2030, bởi vậy cũng là thách thức rất lớn.

pho-cap-gd.jpg
Cô trò Trường THCS-THPT Ban Mai (Hà Nội).

Phía sau những con số ấy là những điểm nghẽn cần được nhìn nhận rõ. Ở một số địa phương, hoạt động của Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục, xóa mù chữ chưa được duy trì thường xuyên; sự phối hợp giữa chính quyền cấp xã, cơ sở giáo dục và các lực lượng liên quan có nơi còn thiếu chặt chẽ. Đáng lưu ý, một số nơi vẫn đặt nặng việc “giữ chuẩn”, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng thực chất của các tiêu chí phổ cập.

Khó khăn cũng xuất phát từ chênh lệch trong điều kiện bảo đảm giáo dục giữa các địa phương. Một số nơi thiếu phòng học, thiết bị dạy học, hạ tầng số, điều kiện tổ chức bán trú; thiếu giáo viên cục bộ vẫn xảy ra. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, việc cập nhật dữ liệu phổ cập theo 34 tỉnh, thành phố và đơn vị hành chính cấp xã mới tạo thêm khối lượng công việc lớn. Không ít địa phương vẫn gặp khó khăn trong đối soát dữ liệu học sinh, dân cư và những biến động của trẻ em trong độ tuổi đi học.

Từ thực tế trên, thời gian tới, các địa phương cần rà soát, chuẩn hóa dữ liệu phổ cập theo đơn vị hành chính mới, đồng thời xác định rõ mức độ đạt chuẩn về phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc ở từng cấp học. Trên cơ sở đó, xây dựng chỉ tiêu nâng chuẩn hằng năm gắn với lộ trình cụ thể, phù hợp điều kiện thực tế của từng địa phương.

Tỷ lệ chuyển tiếp từ tiểu học lên THCS cũng cần được theo dõi chặt chẽ. Từ mức 98,23% hiện nay, cần có giải pháp để tiến gần mục tiêu 99,5% vào năm 2030, nhất là ở những địa bàn còn nhiều học sinh có nguy cơ bỏ học hoặc không tiếp tục học THCS.

Cùng với đó, nguồn lực cần được ưu tiên cho những nơi còn khó khăn, tập trung vào đội ngũ giáo viên, phòng học, thiết bị dạy học, hạ tầng số, điều kiện bán trú và hỗ trợ học sinh yếu thế. Đây là những điều kiện trực tiếp quyết định khả năng duy trì việc học, thay vì chỉ bảo đảm việc huy động học sinh đến trường.

Công tác kiểm tra phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc cũng cần chuyển từ kiểm tra hồ sơ sang đánh giá thực chất. Bên cạnh dữ liệu, cần xem xét tỷ lệ huy động, duy trì sĩ số, hoàn thành chương trình, chuyển cấp và các điều kiện bảo đảm, qua đó nhận diện đúng những địa bàn, nhóm học sinh còn gặp khó khăn để có giải pháp kịp thời.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ