Theo các chuyên gia, đây vừa là thách thức lớn, vừa là động lực quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng.
Khẳng định vai trò của nhân tố con người
Theo GS.TS Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM, trong bối cảnh Việt Nam và nhiều quốc gia đang đầu tư mạnh cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cần nhận thức rõ công nghệ không tự tạo ra giá trị nếu thiếu đội ngũ nhân lực đủ năng lực nghiên cứu, vận hành, làm chủ và phát triển công nghệ.
Nguy cơ lớn nhất không nằm ở việc đầu tư ít, mà ở chỗ đầu tư lớn nhưng hiệu quả khai thác không tương xứng. Các quốc gia có thể nhanh chóng xây dựng trung tâm nghiên cứu, trang bị phòng thí nghiệm hiện đại hay triển khai hệ thống số với chi phí lớn. Tuy nhiên, để hình thành đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia quản lý và người lao động có năng lực làm chủ, sáng tạo trên nền tảng công nghệ đó là quá trình tích lũy dài hạn, cần nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên.
Từ truyền thống trọng dụng hiền tài trong lịch sử đến cuộc cạnh tranh nhân lực chất lượng cao hiện nay, bài học cốt lõi vẫn là phát triển phụ thuộc vào con người. Công nghệ có thể mua sắm, hạ tầng có thể xây dựng, nhưng nhân tài phải được phát hiện, đào tạo, thu hút và tạo điều kiện cống hiến. Vì vậy, đầu tư cho con người cần được xác định là chiến lược phát triển quốc gia mang tính nền tảng, lâu dài.
Thực tiễn thế giới cho thấy khoảng cách giữa sở hữu và làm chủ công nghệ là rất lớn. Một quốc gia có thể mua máy móc, phần mềm hay giải pháp kỹ thuật hiện đại, nhưng không thể mua năng lực sáng tạo, tư duy nghiên cứu và chất lượng nguồn nhân lực. Nếu thiếu đội ngũ đủ trình độ, quốc gia đó chỉ dừng ở vai trò sử dụng công nghệ thay vì tạo ra công nghệ. Khi đó, các khoản đầu tư lớn khó tạo giá trị gia tăng cao và chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực sự của nền kinh tế.
Đặc biệt, trong thời đại trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số, yêu cầu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là năng lực chuyên môn kỹ thuật mà còn bao gồm tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu, giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống, khả năng hợp tác liên ngành và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. GS.TS Ngô Thị Phương Lan khẳng định, chính những năng lực này quyết định mức độ khai thác công nghệ và khả năng tạo ra các đột phá mới.
“Đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao là khoản đầu tư chiến lược và bền vững nhất. Hạ tầng công nghệ có thể tạo điều kiện phát triển, nhưng chính con người quyết định khả năng biến những điều kiện đó thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng.
Mọi thành tựu của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đều khởi nguồn từ con người, do con người vận hành và hướng tới phục vụ con người. Vì thế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển quốc gia”, GS.TS Ngô Thị Phương Lan khẳng định.
Cùng quan điểm, PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), cho rằng trong giai đoạn Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, phía sau mọi công nghệ, nền tảng số và mô hình đổi mới sáng tạo vẫn là con người.
“Khoa học công nghệ không tự vận hành. Chuyển đổi số không tự tạo ra giá trị. Đổi mới sáng tạo càng không thể hình thành chỉ bằng khẩu hiệu hay đầu tư tài chính đơn thuần. Tất cả đều phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực”, PGS.TS Võ Văn Minh nhấn mạnh.
Theo ông Minh, trong bối cảnh thế giới bước vào thời đại trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới và kinh tế xanh, khoảng cách giữa các quốc gia không còn chủ yếu nằm ở tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ, mà ở chất lượng con người và năng lực sáng tạo tri thức mới. Quốc gia nào sở hữu đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ nắm lợi thế cạnh tranh chiến lược.
Điểm nghẽn và đòn bẩy của tăng trưởng
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, nguồn nhân lực chất lượng cao hiện vừa là “điểm nghẽn”, vừa là “đòn bẩy” của tăng trưởng kinh tế.
Đây là điểm nghẽn bởi nhiều lĩnh vực chiến lược của Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ nhân lực trình độ cao, đặc biệt trong các ngành khoa học cơ bản, công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và chuyển đổi số. Nhiều địa phương, doanh nghiệp, thậm chí cơ sở giáo dục đại học gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân lực đủ năng lực triển khai các mô hình phát triển mới.
Một nghịch lý hiện nay là Việt Nam có thể nhập khẩu công nghệ, đầu tư hạ tầng số với nguồn lực lớn nhưng lại thiếu đội ngũ đủ khả năng vận hành, nghiên cứu, cải tiến và làm chủ công nghệ. Điều này khiến hiệu quả đầu tư chưa tương xứng, thậm chí có nguy cơ lãng phí nguồn lực.
PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng, thực tế thời gian qua cho thấy một số dự án đầu tư công nghệ quy mô lớn chưa phát huy hiệu quả tương xứng. Có nơi sở hữu hệ thống hiện đại nhưng chưa khai thác hết công năng; có nơi triển khai nhanh về hình thức nhưng thiếu chiều sâu trong vận hành và gắn kết thực tiễn. Điều đó cho thấy vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở công nghệ, thiết bị mà ở chất lượng nguồn nhân lực.
Ở góc nhìn khác, GS.TS Ngô Thị Phương Lan cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay mở rộng vốn đầu tư. Động lực tăng trưởng đang chuyển sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, mọi thành tựu công nghệ và mô hình phát triển mới đều phải được kiến tạo, vận hành, lan tỏa bởi con người.
Nguồn nhân lực trở thành điểm nghẽn bởi đây là yếu tố khó hình thành nhất, cần quá trình tích lũy dài hạn. Trong nhiều năm, chúng ta chú trọng đào tạo kiến thức, kỹ năng chuyên môn nhưng chưa đầu tư tương xứng cho các năng lực nền tảng như tư duy phản biện, sáng tạo, thích ứng, hợp tác và lãnh đạo trong môi trường toàn cầu.
Bên cạnh đó, cơ chế sử dụng, đãi ngộ nhân tài, môi trường nghiên cứu và làm việc cũng ảnh hưởng đến khả năng phát huy tiềm năng của nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực tế cho thấy người Việt Nam được đánh giá cao về khả năng học tập, sáng tạo và thích ứng, nhưng nguồn lực này vẫn chưa được khai thác đầy đủ cho phát triển đất nước.
Tuy nhiên, khi tháo gỡ được điểm nghẽn, nguồn nhân lực sẽ trở thành đòn bẩy mạnh mẽ cho tăng trưởng. Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao không chỉ là những người giỏi chuyên môn, làm chủ công nghệ mà còn có khả năng tư duy độc lập, đổi mới sáng tạo, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng nhanh với biến động. Đây sẽ là lực lượng tạo ra công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới, phương thức quản trị mới và những giá trị mới cho xã hội.
Theo GS.TS Ngô Thị Phương Lan, các chủ trương lớn về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hiện nay đều đặt con người ở vị trí trung tâm. Những chính sách về đào tạo nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược, phát triển công nghệ lõi, chương trình học bổng, đào tạo gắn với nghiên cứu và đổi mới giáo dục đại học đều hướng tới mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn này.
“Công nghệ có thể được chuyển giao, vốn có thể được huy động, nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể hình thành trong một sớm một chiều.
Muốn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, điều quan trọng nhất là xây dựng được một thế hệ công dân, nhà khoa học, doanh nhân và nhà quản lý có đủ năng lực, bản lĩnh, tư duy đổi mới và tinh thần cống hiến. Vì vậy, đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là đầu tư cho giáo dục mà chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh cốt lõi và tương lai trường tồn của quốc gia”, GS.TS Ngô Thị Phương Lan nhấn mạnh.
Phát triển con người phải trở thành chiến lược quốc gia
Từ góc độ giáo dục đại học, PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng, muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, Việt Nam phải bắt đầu từ chiến lược phát triển con người. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục mà cần được xác định là chiến lược quốc gia.
Theo ông, cần nhìn nhận đúng vai trò của khoa học cơ bản và đào tạo giáo viên. Nếu khoa học công nghệ là “động cơ” thì khoa học cơ bản chính là “nền móng” tạo ra tri thức gốc, còn giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng nguồn nhân lực tương lai. Một quốc gia muốn phát triển lâu dài không thể chỉ chú trọng đào tạo kỹ năng ngắn hạn mà xem nhẹ nền tảng khoa học cơ bản và chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Trong bối cảnh mới, các trường đại học không thể chỉ là nơi đào tạo, cấp bằng mà phải trở thành trung tâm kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ cho xã hội. Đại học cần gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, địa phương, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đồng thời đi đầu trong chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực chiến lược.
TS Cù Ngọc Phương - Trưởng khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cũng khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xem là khoản đầu tư chiến lược, không phải chi phí phụ trợ. Khoản đầu tư này cần đi trước, đi cùng và đi sau đầu tư công nghệ: đi trước để chuẩn bị năng lực hấp thụ; đi cùng để vận hành, tối ưu; đi sau để tiếp tục nghiên cứu, cải tiến và sáng tạo.
Theo TS Cù Ngọc Phương, nội dung đầu tư cần bao gồm đổi mới giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; gắn đào tạo với nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường lao động; phát triển năng lực số, ngoại ngữ, tư duy phản biện, năng lực liên ngành; bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia công nghệ; xây dựng cơ chế trọng dụng nhân tài và văn hóa học tập suốt đời để người lao động có thể liên tục tái đào tạo, thích ứng với thay đổi.
Nói cách khác, muốn đầu tư công nghệ hiệu quả, trước hết phải đầu tư vào chủ thể làm chủ công nghệ. Muốn chuyển đổi số thành công cần chuyển đổi năng lực con người. Muốn đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng phải hình thành những con người có tri thức, bản lĩnh, đạo đức và khát vọng sáng tạo.
Trong giai đoạn mới, lợi thế phát triển không thuộc về nơi sở hữu nhiều công nghệ nhất, mà thuộc về nơi có đội ngũ nhân lực đủ năng lực biến công nghệ thành tri thức, tri thức thành sáng tạo và sáng tạo thành giá trị phát triển bền vững.
“Có thể nói, một nền giáo dục tiến bộ không chỉ chuẩn bị người học cho một nghề nghiệp cụ thể, mà còn trang bị năng lực sống và làm việc trong một thế giới luôn biến đổi: biết học, biết nghĩ, biết làm, biết hợp tác, biết sáng tạo và biết chịu trách nhiệm. Đó là nền tảng để khoa học công nghệ không trở thành sự phô diễn hình thức, chuyển đổi số không dừng ở số hóa bề mặt, đổi mới sáng tạo không chỉ là khẩu hiệu, mà trở thành sức mạnh thực sự của tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững”, TS Cù Ngọc Phương cho hay.
PGS.TS Võ Văn Minh khẳng định, mục tiêu tăng trưởng hai con số là khát vọng lớn nhưng để đạt được một cách bền vững, Việt Nam cần một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đủ tầm cho thời đại mới - những con người không chỉ biết sử dụng công nghệ mà còn có khả năng sáng tạo công nghệ, làm chủ tri thức và dẫn dắt sự phát triển của đất nước.