Chuẩn hóa các trình độ
Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, gồm đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Thông tư quy định các yêu cầu về chuẩn chương trình đào tạo; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo; tổ chức thực hiện, duy trì, cải tiến, kiểm tra, giám sát; đồng thời quy định việc phê duyệt, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động đào tạo và chấm dứt tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Theo Thông tư, chương trình đào tạo phải bảo đảm tính khoa học, tính hệ thống, tính liên thông, tính thực tiễn và khả năng cập nhật; đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, yêu cầu nghề nghiệp và học tập suốt đời. Mục tiêu đào tạo phải phản ánh yêu cầu chung về năng lực, phẩm chất của người học sau khi tốt nghiệp; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhu cầu của thị trường lao động và các lĩnh vực nghề nghiệp.
Đáng chú ý, đối với chuẩn đầu ra trình độ đại học, bên cạnh kiến thức chuyên môn, Bộ GD&ĐT yêu cầu sinh viên được trang bị thêm các kỹ năng về ngoại ngữ, năng lực số, khả năng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cùng nhiều kỹ năng cần thiết khác…
Thông tư cũng quy định, các chương trình đào tạo trình độ đại học theo định hướng nghiên cứu, học thuật phải tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, học thuật và đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, các chương trình theo định hướng ứng dụng, chuyên nghiệp cần đẩy mạnh thực hành, thực tập, trải nghiệm nghề nghiệp, triển khai dự án hoặc đồ án gắn với thực tiễn.
Đối với trình độ thạc sĩ, chương trình đào tạo phải đáp ứng yêu cầu về năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển tri thức. Với trình độ tiến sĩ, người học phải có năng lực nghiên cứu độc lập; có khả năng đề xuất công nghệ hoặc giải pháp mới; tạo ra sản phẩm công bố khoa học hoặc sản phẩm ứng dụng kết quả nghiên cứu; đồng thời có năng lực hướng dẫn nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
Thông tư cũng quy định rõ khối lượng học tập tối thiểu đối với từng trình độ đào tạo. Cụ thể, chương trình đào tạo trình độ đại học và chương trình đào tạo bậc 6 có khối lượng tối thiểu 120 tín chỉ; chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù từ 150 tín chỉ trở lên; chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ từ 45 tín chỉ trở lên; chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ là 90 tín chỉ.
Ở góc độ người học, Phạm Gia Linh, sinh viên năm thứ 3 Trường Đại học Việt Đức, cho rằng những quy định mới sẽ giúp sinh viên nâng cao năng lực chuyên môn cũng như kỹ năng nghề nghiệp ngay từ khi còn trên giảng đường.
Theo Linh, trong kế hoạch học tập có một học kỳ tại Đức, vì vậy việc tích lũy vốn ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng sử dụng các công cụ AI phục vụ học tập là hết sức cần thiết. Đây đều là những yêu cầu của một sinh viên toàn cầu. Nếu được nhà trường bồi dưỡng thường xuyên, sinh viên sẽ có thêm sự tự tin khi bước vào thị trường lao động.
“Em đang theo học ngành giao thông thông minh và sẽ có học kỳ thực tập, làm việc tại Đức - trung tâm công nghiệp ô tô của quốc gia này. Đây là cơ hội rất lớn để em hiểu rõ môi trường sản xuất công nghiệp trong lĩnh vực ô tô, đồng thời tích lũy những kinh nghiệm thực tiễn quý báu, giúp em hình dung rõ hơn về công việc của mình sau khi tốt nghiệp”, Linh chia sẻ.
Trường học cần làm gì?
Theo các chuyên gia giáo dục, việc nâng cao chuẩn đầu ra sẽ giúp sinh viên hình thành những năng lực cốt lõi, tạo lợi thế để khẳng định bản thân khi gia nhập thị trường lao động.
Ủng hộ chủ trương này, ThS Võ Đình Văn, Giám đốc Trung tâm ONE, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ TPHCM, cho rằng trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh chóng dưới tác động của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và xu hướng toàn cầu hóa, các kỹ năng về ngoại ngữ, năng lực số, AI và kỹ năng chuyển đổi (transferable skills) không còn là yếu tố bổ trợ mà đã trở thành những năng lực cốt lõi giúp sinh viên thích ứng với sự biến động của thị trường lao động.
Theo ThS Võ Đình Văn, những kỹ năng này giúp người học làm việc hiệu quả hơn, tối ưu nguồn lực xã hội, đồng thời mở rộng cơ hội hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường quốc tế. Nhờ đó, sinh viên sau khi tốt nghiệp không chỉ vững chuyên môn mà còn trở thành những công dân toàn cầu, có khả năng học tập suốt đời và thích ứng với nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau.
Ông cũng cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, việc đào tạo nguồn nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ, giao tiếp toàn cầu và tư duy linh hoạt là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi được trang bị đầy đủ các kỹ năng này, sinh viên không chỉ mở rộng cơ hội nghề nghiệp mà còn có khả năng học tập suốt đời, làm việc trong môi trường quốc tế và đóng góp hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tại Trường Đại học Quản lý và Công nghệ TPHCM, nhiều năm qua, nhà trường đã chủ động tích hợp việc phát triển năng lực liên ngành, tư duy đa chiều và trí thông minh cảm xúc vào chương trình đào tạo ngay từ năm nhất.
Thông qua hệ thống học phần giáo dục tổng quát và khai phóng như Thông minh cảm xúc và nghệ thuật lãnh đạo, Tranh biện đạo đức, Giao tiếp liên văn hóa hay Giao tiếp phi bạo lực, sinh viên được rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, hợp tác và khả năng thích ứng với sự khác biệt về văn hóa cũng như môi trường làm việc.
“Bên cạnh đó, nhà trường cũng chú trọng phát triển năng lực số, khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tinh thần học tập suốt đời. Đây không chỉ là sự chuẩn bị cho thành công nghề nghiệp của từng cá nhân mà còn là đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng một thế hệ lao động Việt Nam năng động, sáng tạo và sẵn sàng hội nhập quốc tế”, ThS Võ Đình Văn nhấn mạnh.
Ở góc nhìn khác, ThS Từ Hữu Công, giảng viên Trường Đại học Bình Dương, cho rằng giáo dục hiện đại đang chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện cho người học. Trong xu thế đó, học tập thông qua trải nghiệm được xem là hướng đi quan trọng, giúp sinh viên không chỉ biết mà còn hiểu, làm được và biết chịu trách nhiệm với những lựa chọn của mình.
“Không phải ngẫu nhiên mà nhiều doanh nghiệp hiện nay đánh giá cao những sinh viên từng tham gia hoạt động cộng đồng hoặc có trải nghiệm thực tế. Chính những trải nghiệm ấy giúp người trẻ hình thành tính chủ động, khả năng thích nghi, tinh thần hợp tác và kỹ năng giải quyết vấn đề trong môi trường thực tiễn”, ThS Từ Hữu Công chia sẻ.
Về cơ sở vật chất, Thông tư yêu cầu cơ sở thực hành, thực tập, trang thiết bị, thư viện, học liệu số, nền tảng công nghệ thông tin và các hệ thống hỗ trợ đào tạo phải đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện chương trình. Mỗi học phần phải có giáo trình hoặc học liệu phù hợp, bảo đảm tính khoa học, tính cập nhật, tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ, quốc phòng, an ninh, lợi ích cộng đồng, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục.