(GD&TĐ) - Cùng một chính sách, cùng đối mặt với những khó khăn tương tự, bên cạnh những trường NCL bám sát chiến lược, năng động lóe sáng nhiều giải pháp ngoạn mục và lấp lánh những tín hiệu của một HARVARD Việt Nam trong tương lai, thì cũng có (tiếc thay lại số nhiều), những trường có nguy cơ tan vỡ.
Không thực hiện đúng cam kết
Thực tế cho thấy khi xúc tiến thành lập trường, nhiều nhà đầu tư cam kết rất… hoành tráng, nhưng quá trình thực hiện thì… trời ơi. GS Nguyễn Minh Thuyết khi nói về vấn đề này đã nhận xét: “Nhiều trường được mở dường như chỉ nhằm mục đích kinh doanh giáo dục chứ không phải để phục vụ cho quốc sách hàng đầu. Không ít trường ĐH mới thành lập không có triển vọng của một trường ĐH vì không có giảng viên, thậm chí không có cả trường lớp, chủ yếu đi thuê mướn”.
![]() |
| Sinh viên trong phòng lap |
Vấn đề do các trường không có lãi để tái đầu tư hay… không chịu đầu tư? Theo tìm hiểu của chúng tôi, tổng số vốn hoạt động của một số trường vẫn tăng đều đặn hàng năm. Trong đó nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận của một vài trường tăng cao nhất với mức 1,8 lần trong 3 năm. Thế nhưng, có trường sau một thời gian ngắn hoạt động đã có tích lũy nhưng không đưa vào đầu tư mà đem gửi ngân hàng để thu lãi hàng tháng.
Trên danh nghĩa có cơ sở vật chất, đảm bảo được diện tích tối thiểu theo quy định của Bộ nhưng thực chất các giảng đường, phòng học, phòng nghiên cứu ấy phần nhiều được sửa sang, cơi nới từ hiện trạng cơ sở vật chất nghèo nàn vốn có của nó trước khi được nhà trường thuê hoặc mua lại. Tình trạng ra đời cả chục năm, thậm chí có trường 15, 16 năm vẫn đi thuê mướn cơ sở vật chất, không phải hiếm.
Tương tự là vấn đề đội ngũ. Đa phần các trường NCL mới thành lập sử dụng đội ngũ thỉnh giảng là chủ yếu. Chính sách “xà xẻo” giờ dạy của GV thỉnh giảng cũng được một số trường áp dụng vì… lí do lợi nhuận. Ví dụ, có môn học phải học đủ 60 tiết thì chỉ thỉnh giảng 45 tiết, số còn lại coi như rèn luyện thực hành. Trong điều kiện kinh phí thỉnh giảng cao, một số trường cũng bắt đầu “tự chủ” nguồn nhân lực cho tiết kiệm. Sau vài khóa đào tạo, những SV khá, giỏi khi tốt nghiệp được nhà trường giữ lại gọi là “giảng viên cơ hữu”. Tuy nhiên, từ đây lại bộc lộ những điểm yếu khác. Đó là kiểu “cơm chấm cơm” trong giảng dạy. Chính tình trạng này kéo dài đã làm chất lượng đào tạo một số ngành của một số trường ĐH NCL đi xuống rõ rệt. Chất lượng xuống dốc đồng nghĩa với việc thương hiệu của nhà trường ngày càng giảm sút. Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), việc tìm GV đủ chuẩn cho các trường vùng khá khó khăn và tình trạng “cơm chấm cơm” còn kéo dài. Vì theo TS Nguyễn Văn Đệ - Hiệu trưởng Trường ĐH Đồng Tháp, thì hiện nay ĐBSCL có 7 mã ngành đào tạo thạc sĩ, trong đó ĐH Cần Thơ có 4 và ĐH Đồng Tháp có 3.
Học phí cao, chất lượng chưa tương xứng
Chính sách học phí của các trường cũng được xem là nguyên nhân tác động không nhỏ đến việc nguồn tuyển bị kéo giảm qua từng năm. Do phần lớn các trường ĐH NCL hiện vẫn hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn học phí, chi phí đầu tư ban đầu thấp nên bắt buộc họ phải đi thuê mướn cơ sở để giảng dạy. Điều đó khiến cho họ rơi vào vòng luẩn quẩn khi không có được sự tái đầu tư. Chi phí ngày càng tăng, đòi hỏi của người học ngày càng lớn (phải đầu tư) thì cũng đồng nghĩa với mức học học phí tăng dần đều qua hàng năm.
Thủ tướng Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã có quy định và văn bản hướng dẫn chi tiết lộ trình tăng học phí (10%) mỗi năm để tránh gây sốc và giảm áp lực cho người học. Nhưng vì bài toán tồn tại, không ít trường cứ tăng mức học phí ngất ngưởng sau mỗi mùa tuyển sinh. Áp lực chi phí học tập, điều kiện kinh tế gia đình đã khiến không ít học sinh chọn ngã rẽ khác (học TCCN, CĐ hoặc đợi thi vào trường công lập) để học ĐH, khiến cơ cấu nguồn tuyển của các trường hẹp lại.
Đáng nói là, trong lúc học phí cao nhưng vì nặng gánh thuê mướn cơ sở vật chất và mời thỉnh giảng, rồi để có lợi nhuận cho các nhà đầu tư, một số trường còn tiết giảm tối đa mức chi thực tế cho mỗi SV. Chất lượng đào tạo, vì thế, trở nên không tương xứng. Một Phó hiệu trưởng trường ĐH phân tích: Với mức học phí SV ĐH NCL phải đóng lên tới hơn 15 triệu đồng/năm (bình quân chung) trong khi số học phần hoặc tín chỉ được học của SV trong 4 năm (chưa tính cắt ngang, cắt dọc) khoảng 100-120 tín chỉ thì chi phí cho một SV là rất thấp, không quá 20 triệu đồng (cộng cả 2% chênh lệch). Với mức chi này, khả năng nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐH dân lập-tư thục là hết sức khó khăn.
“Quả bom” mâu thuẫn nội bộ
Một trong những lí do khiến nhiều trường ĐH NCL vốn rất có uy tín, dần rơi vào khủng hoảng, thậm chí đến mức bị dừng tuyển sinh là vấn đề mâu thuẫn nội bộ. Nội bộ mất đoàn kết, mâu thuẫn kéo dài, uy tín của trường bị giảm sút đối với xã hội là bài học của Đại học Lương Thế Vinh, Đại học DL Đông Đô, Đại học Yersin Đà Lạt...; thậm chí có trường Bộ phải xử lý buộc phải dừng tuyển sinh để giải quyết nội bộ, như: Đại học Hùng Vương, ĐH Phan Chu Trinh, Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Bách khoa... Điều này đã gây mất lòng tin lớn đối với xã hội và người học.
![]() |
| Sinh viên Đại học Bình Dương |
Một trong những điển hình khủng hoảng vì mâu thuẫn nội bộ là chuyện ở Trường Đại học Hùng Vương. “Cuộc chiến” giữa Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Hiệu trưởng kéo dài không chỉ khiến việc tổ chức hoạt động của nhà trường bị ảnh hưởng mà còn khiến hình ảnh của trường trở nên xấu trong mắt xã hội. Năm 2012 Bộ đã cảnh báo dừng tuyển sinh do mâu thuẫn nghiêm trọng trong bộ máy lãnh đạo, không có khả năng điều hành hoạt động của trường, ảnh hưởng đến uy tín và môi trường giáo dục.
Rồi những lình xình của Trường Đại học Chu Văn An do những rắc rối xung quanh việc chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông khiến cho Đại hội cổ đông nhiệm kỳ 2011 - 2015 chưa thể thông qua các tiêu chí và bầu các chức danh Chủ tịch HĐQT, Ban kiểm soát… Và bài học lớn nhất là Đại học Dân lập Đông Đô đã từng là một trường ngoài công lập có từ sớm, quy mô và uy tín lúc đó vào loại lớn nhất nước, nhưng cũng do mất ổn định về nội bộ mà trường này đến nay gần như phải làm lại từ đầu. Trong chưa ấm thì làm sao ngoài êm được?
Gánh nặng chính sách và kỳ thị
Bên cạnh những lí do chủ quan, có những nguyên nhân khách quan khiến nhiều trường suy yếu. Đáng chú ý là vấn đề đất đai, giải phóng mặt bằng. Trường ĐH Văn Hiến là một ví dụ điển hình. Là trường tạo được uy tín và thương hiệu đào tạo khá tốt trong suốt hơn 13 năm hoạt động, với những ngành nghề đào tạo thuộc loại thế mạnh riêng, chỉ tiêu luôn ổn định qua mỗi mùa tuyển sinh nhưng vì vướng mắc trong khâu đền bù giải tỏa khu đất rộng hơn 56 ha được UBND TP cấp suốt nhiều năm liền, trường đã bị buộc phải dừng tuyển sinh 1 năm (2012), khi không đáp ứng được các điều kiện cần và đủ mà Bộ quy định trong quá trình hoạt động. Khi thấy những bất cập, HĐQT, Ban giám hiệu đã nhanh chóng xây dựng lại chiến lược phát triển nhà trường, đồng thời kiện toàn mạnh mẽ bộ máy nhân sự, bộ máy quản lý bằng những chính sách đãi ngộ hợp lý nhất. Đến nay, trường đã hoàn tất xây dựng mới cơ sở vật chất, hệ thống giảng đường, phương tiện nghe nhìn của trường tại quận Tân Bình, quận Tân Phú, quận 3 và quận 12 với diện tích hàng chục ngàn mét vuông; Gấp rút xây dựng có đưa vào sử dụng KTX với 700 chỗ ở cho SV tại cơ sở 1004A, Âu Cơ ( Tân Phú) vào cuối năm 2013.
Nói về chính sách nhà nước làm khó trường NCL, TS Phan Văn Thơm – Quyền Hiệu trưởng Trường ĐH Tây Đô - lưu ý: Trường NCL cũng vì mục tiêu chung là đào tạo nhân lực cho đất nước, bị đánh thuế là chuyện rất khó khăn. Theo Luật Đất đai thì các trường NCL phải được Nhà nước cấp đất sạch nhưng ĐH Tây Đô phải đi mua đất để xây trường, mua đất rồi bỏ tiền ra để đầu tư, phát triển nhưng cuối cùng bị đánh thuế…
Theo quy định các trường đảm bảo diện tích 55 m2/SV, nếu không đảm bảo sẽ đánh thuế nặng. Tuy nhiên nếu căn cứ vào đây để đánh thuế thì rất nặng nề cho các trường NCL.
Một thực tế khác cũng làm ảnh hưởng đến sự tồn vong của trường NCL là thái độ kỳ thị trong tuyển dụng. Còn nhớ cách đây vài năm, trong một đợt thi công chức tỉnh Nam Định đã đưa ra thông báo chỉ nhận người tốt nghiệp các trường ĐH công lập. Theo giải thích của lãnh đạo tỉnh này, ở những vị trí tỉnh đang tuyển dụng cần người giỏi, còn những người qua đào tạo dân lập chưa tạo được lòng tin. Mới đây thôi, UBND TP Hà Nội cũng vừa công bố Đề án thí điểm đào tạo 1.000 công chức nguồn giai đoạn 2012 - 2015 của TP Hà Nội, để thay thế những công chức về hưu, trong đó cũng đưa ra tiêu chí phải tốt nghiệp đại học công lập hệ chính quy. Vẫn biết là sự kỳ thị đó, bắt đầu từ những “con sâu làm rầu nồi canh” trong chính bản thân hệ thống NCL, nhưng, thực tế đó vẫn đủ sức làm héo hắt một nhành non tốt đang trong thời phát triển…
Có những nguyên nhân khách quan, có những nguyên nhân chủ quan xung quanh câu chuyện đi đến suy yếu của một số trường NCL. Một bức tranh buồn, nhưng … không hề thê thảm. Bài học phát triển trường NCL đã trả giá đắt bằng những cái chết được báo trước, nhưng đồng thời cũng mở ra một triển vọng mới về tái cơ cấu hệ thống. TS Lê Đình Viên - Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế Công nghiệp Long An - cho biết: “Có một số trường ngoài công lập vi phạm trong đào tạo và không đảm bảo chất lượng đào tạo nhưng số đó còn rất ít và tôi tin rằng trong thời gian tới những trường như thế khó mà trụ nổi… Bây giờ muốn đầu tư và phát triển nhà trường NCL cần phải có nhà đầu tư chân chính...”. Còn GS Trần Hồng Quân - Chủ tịch Hiệp hội các trường NCL - cũng thẳng thắn nhìn nhận: Không cách nào khác, muốn tồn tại các trường cần phải tự mình thay đổi. Nhưng chính sự “chọn lọc” có phần khắc nghiệt ấy lại đang mang lại những hy vọng cho hệ thống GDĐH NCL ….
Nhóm PV
