Jacques Prévert có tập thơ in hàng triệu cuốn

GD&TĐ - Jacques Prévert (1900 - 1977) là nghệ sĩ Pháp đa tài, soạn kịch bản và đối thoại sân khấu cùng điện ảnh, sáng tác tranh theo biện pháp ghép dán/collage, viết truyện thiếu nhi, nhưng trội bật nhất là làm thơ.

Chân dung Jacques Prévert do Pablo Picasso kí họa được in trên tem bưu chính Pháp phát hành năm 1991.
Chân dung Jacques Prévert do Pablo Picasso kí họa được in trên tem bưu chính Pháp phát hành năm 1991.

Sách song ngữ Pháp Việt “La mort, l’amour, la vie / Cái chết, tình yêu, sự sống” giới thiệu rằng Jacques Prévert có tập thơ được xuất bản hàng triệu cuốn.

Thơ Jacques Prévert nguyên tác tiếng Pháp đạt số lượng ấn bản lớn đến mức… không tưởng. Ấy là chưa tính các bản in thơ Jacques Prévert được dịch sang các thứ tiếng khác. Những bản Việt dịch thơ Jacques Prévert chưa nhiều, công bố rải rác trên báo chí in và mạng, cùng các sách song ngữ Pháp Việt:

+ “La mort, l’amour, la vie / Cái chết, tình yêu, sự sống” - thơ Jacques Prévert được Việt dịch 7 bài bởi Phạm Hổ, Tế Hanh, Khương Hữu Dụng (NXB Tác phẩm mới, 1989).

+ “100 poèmes français du XVe siècle au XXe siècle / 100 bài thơ Pháp từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX” do Phạm Nguyên Phẩm dịch (NXB Giáo dục, 1998).

+ “Tournesol / Hướng Dương” do Thân Trọng Sơn dịch 50 bài (Đà Lạt, 2007).

Sơ lược tiểu sử

Jacques André Marie Prévert chào đời ngày 4/2/1900 tại Neuilly-sur-Seine, hiện là Hauts-de-Seine, Pháp.

Năm 1915, Jacques Prévert 15 tuổi, nhận bằng tốt nghiệp tiểu học rồi bỏ học, lêu lổng với thành phần bất hảo. Ngày 15/3/1920, Jacques Prévert thi hành nghĩa vụ quân sự. Năm 1922, Jacques Prévert xuất ngũ, trở lại Paris, giao du với văn nghệ sĩ thuộc chủ nghĩa tượng trưng / symbolisme và chủ nghĩa siêu thực / surréalisme.

Ngày 30/4/1925, Jacques Prévert cưới cô bạn từ thuở thiếu thời là Simone Geneviève Dienne (1903 - 1994). Đầu năm 1926, Jacques Prévert khởi sự văn chương với bài thơ đầu tay “Les Animaux ont des ennuis / Động vật vướng rắc rối rắm”. Một cô bạn khác cũng từ thuở thiếu thời của Jacques Prévert là Christiane Verger phổ bài thơ này thành ca khúc giữ nguyên nhan đề.

Phổ thơ Jacques Prévert thành ca khúc, còn nhiều nhạc sĩ khác, chẳng hạn Joseph Kosma, Louis Bessières, Hanns Eisler, Wal-Berg, Georges Auric, Jo Warfield, Henri Crolla, Sebastien... Nhiều giọng ca tên tuổi như 4 anh em nhà Jacques / Les Frères Jacques, Marianne Oswald, Germaine Montero, Fabien Loris, Agnès Capri, Juliette Gréco, Yves Montand, Mouloudji, Edith Piaf, Jean Guidoni, Catherine Ribeiro, Djemel Charif.., tạo kênh hấp dẫn chuyển thơ Jacques Prévert được nhạc chắp cánh bay xa.

Jacques Prévert không vào Đảng Cộng sản dẫu quan hệ với nhóm Tháng 10 / groupe Octobre thân Liên Xô. Có luồng dư luận rằng, Jacques Prévert thuộc chủ nghĩa vô chính phủ / anarchisme.

Ngày 11/4/1977, trong nhà riêng ở mũi La Hague thuộc tỉnh Manche, Jacques Prévert từ trần vì ung thư phổi.

Xã hội, nhất là nước Pháp, triển khai bao hoạt động vinh danh Jacques Prévert. Nhiều đô thị, có thủ đô Paris, đặt tên đường phố Jacques Prévert. Nhiều thư viện mang tên Jacques Prévert. Theo báo Le Parisiens điều tra năm 2017, toàn nước Pháp có 440 trường học các cấp được đặt tên Jacques Prévert. Đặc biệt, tuyển tập, toàn tập tác phẩm của Jacques Prévert được thực hiện và phát hành trang trọng.

Ảnh chụp Jacques Prévert trên bìa tập thơ “Paroles / Lời nói” ấn hành vào tháng 5/1946, đến nay đã in hơn 2 triệu cuốn.
Ảnh chụp Jacques Prévert trên bìa tập thơ “Paroles / Lời nói” ấn hành vào tháng 5/1946, đến nay đã in hơn 2 triệu cuốn.

“Thơ ở khắp mọi nơi”

Không gò mình theo bất cứ khuôn phép nào, từ trào lưu nghệ thuật đến xu hướng chính trị, Jacques Prévert thoải mái, vô tư, cần thiết thì “lên án chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát xít và nhà thờ” như Đỗ Đức Hiểu nhận định trong “Từ điển Văn học” bộ mới (NXB Thế giới, 2003).

Chẳng có gì cấm kị nên Jacques Prévert dõng dạc tuyên bố: “La poésie est partout comme Dieu n"est nulle part. La poésie, c"est un des plus vrais, un des plus utiles surnoms de la vie. / Thơ ở khắp mọi nơi như Thượng đế chẳng ở đâu cả. Thơ là một trong những điều chân thật nhất, một trong những biệt danh hữu ích nhất cuộc sống”.

Tháng 5/1946, cuốn sách đầu tiên của Jacques Prévert là tập thơ “Paroles / Lời nói” được ấn hành lần đầu ở Paris liền bán sạch; tuần sau tái bản 5.000 cuốn tiếp tục được đông đảo bạn đọc săn tìm; hơn nửa năm 1946 mà tiêu thụ những 25.000 cuốn. Tính đến nay, tập thơ này đã có hơn 2 triệu cuốn in bằng tiếng Pháp, chưa kể sách điện tử cùng bản dịch sang nhiều ngôn ngữ khác.

Sau “Paroles”, Jacques Prévert tung ra các thi tập khác gồm “Histores / Những câu chuyện” (1946), “Spectacles / Quang cảnh” (1951), “La plue et le beau temps / Mưa nắng” (1955), “Fatras / Lộn xộn” (1966), “Hebdomadaires / Các tuần báo” (1972). Hai tập thơ xuất bản sau khi Jacques Prévert qua đời: “Mặt trời đêm / Soleil de nuit” (1980), “La Cinquième saison / Mùa thứ 5” (1984).

Ngợi ca tình yêu người với người, người với thú vật, người với thiên nhiên, thơ Jacques Prévert mượt mà, thẳng thắn, sẵn sàng xài tiếng lóng và những từ mà đông người phàn nàn rằng thô tục.

Hồn nhiên, giản dị, thơ Jacques Prévert không quá chú trọng cú pháp với vần luật, có bài như “La crosse en l’air / Quyền trượng chỉ thiên” sáng tác năm 1936 lê thê lòng thòng y hệt… trường ca, có bài như “Les paris stupides / Cá cược ngu xuẩn” chỉ 2 dòng quá gọn:

Un certain Blaise Pascal

etc… etc…

Nghĩa:

Một ông Blaise Pacal nào đó

vân vân… vân vân…

Làm thơ, Jacques Prévert khéo dùng lắm biện pháp chơi chữ / jeux de mots nhằm phá vỡ nhiều quy cách diễn ngôn quen thuộc. Đó là anagramme / đảo lộn thứ tự các chữ cái. Thì “Paroles / Lời nói” lại là “La prose / Văn xuôi”. Đó là alliteration / lặp lại các phụ âm, hononymie / đồng âm, neologism / tạo từ mới. Đây, một trong những kiểu tạo từ mới cực kì linh hoạt: Tiếng Pháp có từ alcool mang nghĩa rượu, từ colonel mang nghĩa đại tá, Jacques Prévert kết hợp thành alcolonel.

Không chỉ tiếng Pháp, Jacques Prévert làm thơ còn thoải mái kết hợp tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha. Ví dụ bài thơ sau, nhan đề tiếng Anh, nội dung tiếng Pháp:

PARIS AT NIGHT

Trois allumettes une à une allumées dans la nuit

La première pour voir ton visage tout entier

La seconde pour voir tes yeux

La dernière pour voir ta bouche

Et l’obcurité toute entière pour me rappeler tout cela

En te serrant dans mes bras.

Bản Việt dịch bởi Phanxipăng:

PARIS ĐÊM

Một que, một que, một que diêm

Khoắt khuya, xòe cháy sáng thay phiên

Que đầu, nhìn mặt em trọn vẹn

Que nhì, nhìn thấy đôi mắt hiền

Que cuối, nhìn môi em thắm mịn

Tất thảy vụt chìm trong bóng đêm

Ấy lúc anh biết em mồn một

Nhờ vòng tay anh quấn chặt em.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ