Những thay đổi này được kỳ vọng góp phần bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và phù hợp với người học; đồng thời, thuận lợi cho địa phương trong quá trình biên soạn, thẩm định, ban hành tài liệu.
Tạo hành lang pháp lý minh bạch
Cô Lê Thị Hương - Trường THPT Lam Kinh (Thanh Hóa), nhận định Bộ GD&ĐT xây dựng Thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa và thẩm định tài liệu giáo dục địa phương (thay thế Thông tư 33/2020/TT-BGDĐT) là cần thiết, giúp tháo gỡ “nút thắt” trong thực tiễn triển khai nội dung giáo dục địa phương.
Theo đó, việc xây dựng khung nội dung giáo dục địa phương thống nhất giúp xác định rõ các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, địa lý, kinh tế, xã hội... cho từng cấp học; qua đó, tạo nên tính nhất quán trong chương trình giáo dục địa phương, đồng thời vẫn bảo đảm phù hợp với đặc thù địa phương. Khung nội dung này giúp địa phương tránh tình trạng trùng lặp kiến thức giữa các lớp hoặc thiếu hụt kiến thức cốt lõi, phân định rõ kiến thức theo trục đồng tâm và phát triển.
Thay vì chỉ tập trung vào thẩm định như Thông tư 33/2020/TT-BGDĐT, dự thảo Thông tư mới bao quát từ khâu biên soạn đến chỉnh sửa; quy định rõ về ngôn ngữ, hình ảnh, tính thẩm mỹ. Từ đó, đội ngũ biên soạn có “thước đo” cụ thể để đối chiếu, giảm bớt cảm tính khi thẩm định, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho địa phương.
Cô Hương cũng nhắc đến ưu điểm khi dự thảo quy định bắt buộc dạy học thực nghiệm và phải có đánh giá bằng văn bản trước khi thẩm định; giúp tài liệu địa phương sát với thực tế giảng dạy, tránh tình trạng kiến thức quá tải hoặc không phù hợp với tâm sinh lý học sinh.
Cùng đó là cơ chế thẩm định minh bạch hơn với việc quy định cụ thể về cơ cấu Hội đồng thẩm định (phải có ít nhất 1/3 là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy). Như vậy, tiếng nói chuyên môn từ thực tế lớp học được chú trọng, nâng cao tính khả thi của tài liệu.
Ông Phạm Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lào Cai (tỉnh Lào Cai), cũng đánh giá với nhiều điểm mới so với Thông tư 33/2020/TT-BGDĐT, quy định trong dự thảo Thông tư là phù hợp, cần thiết và tạo thuận lợi cho địa phương trong công tác biên soạn, thẩm định, phê duyệt, ban hành tài liệu giáo dục địa phương. Sự thuận lợi, phù hợp này thể hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, dự thảo quy định khung chương trình giáo dục địa phương nhằm xác định nội dung tổng quan cho từng cấp, lớp học; thuận lợi cho địa phương trong quá trình biên soạn tài liệu theo hướng bảo đảm tính tổng thể, kế thừa, phát triển, tránh trùng lặp tại các cấp, lớp học. Trên cơ sở khung chương trình, các địa phương xây dựng khung tài liệu theo cấu trúc phát triển đồng tâm, khắc phục được nội dung lặp lại, tránh gây nhàm chán cho người học ở lớp học/cấp học cao hơn.
Thứ hai, dự thảo Thông tư giao sở GD&ĐT tổ chức biên soạn tài liệu, hội đồng cấp tỉnh thực hiện thẩm định và chuyển thẩm quyền phê duyệt từ Bộ GD&ĐT về UBND các tỉnh, thành phố. Quy định này giúp các địa phương chủ động hơn trong quá trình biên soạn, thẩm định và phê duyệt tài liệu.
Bởi tài liệu giáo dục địa phương phản ánh những nét đặc thù của từng địa phương về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội và môi trường. Với lợi thế am hiểu thực tiễn, địa phương là đơn vị nắm rõ và có điều kiện lựa chọn, sàng lọc các nội dung, mô-đun phù hợp để đưa vào tài liệu, bảo đảm sát thực tế và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của người học.
Bên cạnh đó, việc chuyển quyền phê duyệt sẽ giảm bớt thủ tục hành chính, thời gian phê duyệt… tạo điều kiện cho địa phương có thể chủ động trong xuất bản, phát hành tài liệu đến các nhà trường. Thực tế tại nhiều địa phương, trong đó có Lào Cai, tài liệu giáo dục địa phương sử dụng trong các năm học vừa qua là bản PDF đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt, chưa in thành sách do nhiều yếu tố tác động.
Thứ ba, dự thảo Thông tư đã tăng cường hoạt động thực nghiệm, xin ý kiến dân chủ rộng rãi từ người học đến giáo viên, nhân dân, nhà khoa học. Đây là nội dung bắt buộc và cần thiết vì vừa thể hiện tính khoa học, tính dân chủ, vừa thể hiện tính sư phạm, tính khả thi, sự phù hợp về mức độ cần đạt của bản thảo tài liệu trước khi thẩm định và trình phê duyệt.
Thực tế cho thấy, trong quá trình triển khai, giáo viên và học sinh mới phát hiện những nội dung chưa phù hợp, thậm chí có thể gây quá tải đối với người học. Vì vậy, việc tổ chức thực nghiệm đối với nhiều chủ đề trong tài liệu được xem là bước quan trọng, giúp địa phương hoàn thiện nội dung trước khi chính thức áp dụng theo Thông tư.
Cũng có những đánh giá tích cực, ông Cầm Văn Thân - Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Huy Bắc (xã Phù Yên, Sơn La), cho rằng dự thảo được xây dựng với cấu trúc rõ ràng, bao quát đầy đủ toàn bộ quy trình từ xây dựng khung nội dung, biên soạn, thực nghiệm đến thẩm định và phê duyệt tài liệu.
Dự thảo cũng làm rõ một số khái niệm như khung nội dung, tài liệu giáo dục địa phương, bản thảo, qua đó góp phần thống nhất cách hiểu và cách triển khai giữa các địa phương.
Bên cạnh đó, quy trình thực nghiệm được quy định cụ thể, yêu cầu thu thập ý kiến từ học sinh và giáo viên nhằm bảo đảm tính thực tiễn của tài liệu. Dự thảo cũng khuyến khích phát triển tài liệu số trong giáo dục địa phương và phân định rõ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, sở GD&ĐT, các cơ sở giáo dục trong quá trình triển khai.
Tuy nhiên, theo ông Cầm Văn Thân, một số nội dung vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh và làm rõ hơn. Cụ thể, quy trình biên soạn hiện còn nhiều bước và thủ tục tương đối phức tạp; chưa có quy định cụ thể về thời lượng và quy mô thực nghiệm; chưa có bộ tiêu chí thẩm định chi tiết đối với tài liệu.
Ngoài ra, dự thảo chưa đề cập rõ chu kỳ cập nhật, điều chỉnh tài liệu giáo dục địa phương; đối với tài liệu số cũng chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất. Bên cạnh đó, việc sử dụng hình ảnh, bản đồ trong tài liệu vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể liên quan đến vấn đề bản quyền.
Hoàn thiện quy định để nâng cao chất lượng
Đưa đề xuất, kiến nghị, ông Cầm Văn Thân cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung trong dự thảo Thông tư để thuận lợi hơn cho quá trình triển khai tại các địa phương. Theo đó, quy trình biên soạn nên được rút gọn và quy định rõ thời gian tối đa cho từng khâu thực hiện.
Đồng thời, cần ban hành yêu cầu cụ thể về thời lượng và quy mô thực nghiệm; xây dựng các phụ lục hướng dẫn thống nhất, như mẫu khung nội dung, tiêu chí thẩm định và phiếu thực nghiệm để các địa phương dễ áp dụng.
Bên cạnh đó, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Huy Bắc đề xuất quy định chu kỳ cập nhật tài liệu giáo dục địa phương tối thiểu khoảng 5 năm/lần; đồng thời có hướng dẫn rõ ràng về quy trình xin phép bản quyền đối với hình ảnh và tư liệu sử dụng trong tài liệu.
“Tôi cũng cho rằng, cần cho phép các cơ sở giáo dục bổ sung học liệu mở nhằm làm phong phú nội dung dạy học, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của bài học. Về kinh phí thực hiện, mặc dù dự thảo giao các địa phương chủ động bố trí ngân sách, song cần có hướng dẫn cụ thể hơn về định mức chi cho một số hoạt động đặc thù như tổ chức dạy thực nghiệm, lấy ý kiến nghệ nhân hoặc chuyên gia địa phương để các tỉnh, thành thuận lợi triển khai.
Đối với học liệu số, dự thảo đã khuyến khích sử dụng tài liệu ở dạng số; tuy nhiên, để tăng tính hiệu quả, Bộ GD&ĐT có thể bổ sung các tiêu chuẩn kỹ thuật chung nhằm giúp địa phương phát triển học liệu điện tử có khả năng tương thích tốt với các nền tảng dạy học trực tuyến hiện nay”, ông Cầm Văn Thân đề xuất thêm.
Góp ý hoàn thiện dự thảo, cô Lê Thị Hương cho biết, hiện nay việc chọn trường thực nghiệm thường tập trung ở vùng thuận lợi. Vì vậy, nên quy định việc dạy thực nghiệm phải được triển khai ở ít nhất hai loại hình địa bàn khác nhau (chẳng hạn một trường ở trung tâm, một trường ở vùng sâu/vùng khó khăn) nhằm bảo đảm tính khả thi của tài liệu cho mọi đối tượng học sinh trước khi ban hành đại trà.
Bên cạnh đó, cô Lê Thị Hương đề xuất cần có hướng dẫn cụ thể hơn về kinh phí biên soạn, bao gồm định mức chi cho đội ngũ biên soạn, thẩm định và tổ chức dạy thực nghiệm. Đồng thời, Bộ GD&ĐT nên xây dựng một “kho học liệu số dùng chung” về giáo dục địa phương, như mô hình 3D về di tích, tư liệu phim lịch sử, các video về kinh tế, du lịch… để các địa phương có thể tham khảo và sử dụng, tránh việc mỗi nơi phải tự đầu tư từ đầu gây lãng phí nguồn lực.
Ngoài ra, dự thảo nên bổ sung quy định về chu kỳ rà soát, cập nhật tài liệu, chẳng hạn khoảng 2 - 3 năm/lần, nhằm kịp thời bổ sung những thay đổi về kinh tế - xã hội của địa phương. Việc cập nhật này nên thực hiện theo hướng chỉnh sửa nhỏ, như cập nhật số liệu, sự kiện mới, sao cho đơn giản, không nhất thiết phải thực hiện lại toàn bộ quy trình thẩm định phức tạp như biên soạn mới.
Trong thực tế quá trình biên soạn tài liệu giáo dục địa phương cần sử dụng nhiều số liệu và tư liệu từ các sở, ban, ngành của tỉnh, thành phố. Vì vậy, ông Phạm Văn Đại đề xuất, trong Chương V của dự thảo Thông tư cần quy định rõ trách nhiệm của các sở, ban, ngành liên quan phối hợp với sở GD&ĐT trong công tác phối hợp biên soạn, thẩm định tài liệu.