Giáo dục - khoa học công nghệ: Động lực then chốt cho phát triển nhanh, bền vững

GD&TĐ - Giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới. 

Học sinh Hà Nội thực hành tại phòng STEM.
Học sinh Hà Nội thực hành tại phòng STEM.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh thông điệp, định hướng lớn liên quan đến con người, tri thức và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đại hội XIV xác lập tầm nhìn mới về con người

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhìn nhận, Nghị quyết 71 cũng cộng hưởng với Nghị quyết 57, quyết liệt chỉ đạo xây dựng những mô hình đại học mới – đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới để trở thành nòng cột và đầu tàu đổi mới, dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam.

Thành phố Cần Thơ được coi là trung tâm đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời giữ vai trò trung tâm trong đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo gắn với quá trình xác lập, chuyển đổi mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ông Lê Quang Tùng - Bí thư Thành ủy Cần Thơ, cho biết những năm vừa qua, với sự nỗ lực thực hiện khâu đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, mạng lưới giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học của thành phố được quan tâm đầu tư và hiện đại hóa.

Đến nay, thành phố có 44 cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với quy mô là khoảng 155.000 sinh viên, học viên, gần 7.000 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, trong đó có trên 1.200 tiến sĩ, trên 262 giáo sư, phó giáo sư. Nhiều cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu đã đạt chuẩn, có thương hiệu vươn tầm khu vực và quốc tế.

“Đây là vốn quý, tiềm năng, lợi thế để phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực then chốt, trọng điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của thành phố”, ông Lê Quang Tùng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo Bí thư Thành ủy Cần Thơ, tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng Đồng bằng sông Cửu Long mới đạt 14,5%, thấp nhất trong các vùng trong cả nước. Nguồn nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực mũi nhọn còn hạn chế. Hạ tầng giáo dục, khoa học công nghệ của vùng còn yếu và thiếu.

Công tác dự báo cung cầu nhân lực và liên kết đào tạo trong vùng còn bất cập, thiếu các cơ sở đào tạo nghề, dạy nghề đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Các cơ chế chính sách đãi ngộ nhân tài cũng chưa thực sự hấp dẫn để thu hút các chuyên gia, giảng viên, nhà khoa học về với vùng.

Ông Lê Quang Tùng nhận định, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Cần Thơ đang đứng trước những yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản trị, nâng cao năng lực thực thi, quyết tâm hành động để chuyển đổi mô hình phát triển, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững cũng như duy trì tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong thời gian tới.

Trong đó, yếu tố mấu chốt là nguồn lực con người phải thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển bứt phá. Phải phát triển được đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia khoa học công nghệ, doanh nhân và người lao động có trình độ chuyên môn cao, có năng lực, có khát vọng phát triển và làm nền tảng vững chắc để nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của vùng.

giao-duc-khoa-hoc-cong-nghe2.jpg
Bên trong phòng Lab của Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU

Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Trước những yêu cầu cấp bách đó, Đảng bộ nhận thức sâu sắc về việc tiếp tục xây dựng, phát triển thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây vừa là mệnh lệnh chính trị, vừa là trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, cũng như trước các địa phương của vùng; đồng thời là thước đo năng lực cụ thể về việc thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Trong thời gian tới, ông Lê Quang Tùng cho biết, thành phố Cần Thơ xác định một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: Một là, tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả sáng tạo các nghị quyết, kết luận của Trung ương về phát triển nguồn nhân lực, nhất là các chủ trương, giải pháp đột phá, các chính sách đặc thù vượt trội.

Thành phố xác định đây là nhiệm vụ chính trị, mục tiêu quan trọng phải cụ thể hóa vào các chương trình hành động của Thành ủy để triển khai đồng bộ, ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền địa phương, đồng thời ưu tiên nguồn lực để triển khai hiệu quả trong thời gian tới.

Hai là, thành phố tiếp tục tập trung thu hút các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp đào tạo, tiến tới hình thành mạng lưới dạy nghề của thành phố, đảm bảo chất lượng, đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng như đối với các cơ chế cụ thể; tập trung đầu tư một số cơ sở giáo dục đào tạo trọng điểm trong giai đoạn đến năm 2030.

Ba là, tập trung thu hút giảng viên, chuyên gia và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng như phát triển nguồn nhân lực, tập trung thu hút học sinh, sinh viên học tập tại thành phố; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương về hỗ trợ nhà ở, chính sách về tiền lương, chính sách về thuế thu nhập, về đãi ngộ, bồi dưỡng để khuyến khích các giảng viên, các chuyên gia công tác tại thành phố...

Bốn là, thành phố sẽ đi đầu trong việc hợp tác chiến lược với các cơ sở đào tạo trong hình thành mạng lưới liên kết hệ sinh thái tri thức mở, mô hình “ba nhà” (Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp), tiên phong trong việc sử dụng các sản phẩm khoa học công nghệ có giá trị ứng dụng vào sản xuất kinh doanh.

Năm là, từng bước khẳng định uy tín và thương hiệu đào tạo nguồn nhân lực của thành phố. Chủ động nghiên cứu, mở và đón đầu, thích ứng nhanh với xu thế ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, tăng số chương trình đã được kiểm định đạt chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế cũng như thành phố sẽ hỗ trợ có cơ chế đặt hàng đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các địa phương, đặc biệt là các ngành, lĩnh vực chiến lược.

Sáu là, ưu tiên nguồn lực và phấn đấu là địa phương đi đầu trong phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo thành phố, xây dựng khu đại học khoa học công nghệ tập trung, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý nguồn nhân lực tương thích gắn kết với cơ sở dữ liệu quốc gia. Đây là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển, cũng là động lực để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới.

Để phát huy vai trò trung tâm trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố kiến nghị Trung ương sớm nghiên cứu sửa đổi các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ về phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng với tầm nhìn, định hướng và các đột phá chiến lược trong thời gian tới.

Trong đó, có các cơ chế, chính sách đặc thù của lĩnh vực giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Cần Thơ phát triển nhanh, bền vững, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Đảng bộ thành phố Cần Thơ sẽ khẩn trương cụ thể hóa và triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, phát triển Cần Thơ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng giàu đẹp trong kỷ nguyên mới của đất nước.

giao-duc-khoa-hoc-cong-nghe-1.jpg
Thầy trò Trường Tiểu học Trung Yên (Hà Nội). Ảnh: INT

“Bộ ba” mở không gian phát triển mới

Từ thu nhập trung bình tới thu nhập cao, Việt Nam phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, khẳng định, cả ba động lực này đều được Đảng ta mở rộng nội hàm, tái định nghĩa theo cách tiếp cận mới, tạo ra không gian phát triển mở rộng hơn, khai phóng các nguồn lực mới để thúc đẩy tăng trưởng. Với 3 động lực này, chúng ta có thể tăng trưởng 2 con số.

Theo Bộ trưởng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước.

Nghị quyết số 57-NQ/TW như một nghị quyết “khoán 10” về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với tinh thần: Quản lý theo mục tiêu, không quản cách làm; trao quyền tự chủ và trách nhiệm cho người làm; chấp nhận rủi ro, đánh giá dựa trên hiệu quả tổng thể; người làm được hưởng lợi từ thành quả lao động và sáng tạo. Từ chỗ thiếu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chúng ta sẽ tiến tới đủ, thừa, xuất khẩu và xuất khẩu lớn, giống như chúng ta đã làm được đối với nông nghiệp.

“Mỗi quốc gia có văn hóa riêng, có ngữ cảnh riêng, trình độ phát triển và chế độ khác nhau. Tìm ra cách tiếp cận phù hợp để đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là quan trọng hàng đầu”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh và nêu rõ, cách tiếp cận của Việt Nam là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.

Ngoài ra, tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Phát triển trong một hệ sinh thái đầy đủ và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nhân lực, Nhà nước, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp. Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra. Đặt khoa học công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Cùng đó là hướng vào giải quyết các bài toán lớn của đất nước, như tăng trưởng 2 con số, năng suất, chất lượng, quản trị quốc gia. Tự chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như cấu phần quan trọng của chủ quyền quốc gia. Đi từ ứng dụng, sản phẩm, thị trường tới làm chủ công nghệ. Cho phép và khuyến khích ứng dụng cái mới trong thực tiễn, coi đây là “con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất” để hình thành, hoàn thiện và phát triển các công nghệ mới.

Đồng thời, phải xây dựng văn hóa khuyến khích khám phá, khoan dung với thất bại; phải đi trước để dẫn dắt phát triển quốc gia; sở hữu trí tuệ phải được coi là tài sản có thể định giá, mua bán, chuyển giao và khai thác trên thị trường. Sở hữu trí tuệ trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia. Một quốc gia phát triển là quốc gia mà tài sản vô hình, tài sản trí tuệ chiếm tới 80% tổng tài sản.

Để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, việc đầu tiên cần làm là đo lường sự đóng góp của “bộ ba” này tới tăng trưởng GDP. Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, đây là việc quan trọng đầu tiên và Bộ đang xây dựng phương pháp đo, ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đặt mục tiêu đo lường tác động của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tới tăng trưởng GDP. Đo lường hiệu quả còn là giải pháp cơ bản để chống lãng phí. Với thực tiễn Việt Nam, trong giai đoạn từ nay tới năm 2031, thứ tự ưu tiên nên là chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ.

Về chuyển đổi số, người đứng đầu Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, chuyển đổi, thay đổi cách thức vận hành là chính, chiếm 70%, còn 30% là công nghệ và cần làm ngay 100% vì có nền tảng số. Đổi mới sáng tạo cần tập trung vào hỗ trợ đổi mới công nghệ, thử nghiệm các công nghệ mới cho các doanh nghiệp. Bộ Khoa học và Công nghệ đang tham mưu Chính phủ chỉ đạo mỗi bộ, ngành và địa phương phải có một trung tâm đổi mới sáng tạo.

Đáng lưu ý, Bộ Chính trị đã giao Chính phủ chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Chiến lược về quốc gia khởi nghiệp sáng tạo, toàn dân khởi nghiệp, một người có thể lập và vận hành doanh nghiệp với sự trợ giúp của các nền tảng số quốc gia.

Đổi mới sáng tạo còn là đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh dựa trên công nghệ, mang lại giá trị lớn. Thế giới đang có những làn sóng mới mà Việt Nam có thể tận dụng để tăng trưởng nhanh vì rất phù hợp với văn hóa, năng lực người Việt Nam. Và thể chế mới quyết định đối với đổi mới sáng tạo và phát triển.

Chi cho khoa học công nghệ, quan trọng là một đồng của Nhà nước phải kích hoạt được 3 - 4 đồng của doanh nghiệp. Khi đó, 2% ngân sách khoa học công nghệ của Nhà nước sẽ thành 2% GDP của cả xã hội chi cho khoa học công nghệ.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đang hoàn thiện cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Một cơ chế quan trọng khác để tăng tính hiệu quả của ngân sách khoa học công nghệ là thay vì chi cho nghiên cứu, sẽ đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu hoặc thưởng cho kết quả nghiên cứu có hiệu quả.

Để bảo đảm nuôi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học, bao gồm nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học xã hội, chúng ta sẽ chi cho đầu vào tri thức và chấp nhận rủi ro ở đầu ra, nhưng trước mắt ngân sách này khoảng 15 - 20% tổng ngân sách khoa học công nghệ. Thay đổi tư duy, nhận thức, cách tiếp cận, cách làm luôn là yếu tố đầu tiên quyết định thành công của những chủ trương lớn, mục tiêu cao.

Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm và khát vọng hùng cường cháy bỏng của 100 triệu dân Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tin tưởng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là “bộ ba” động lực đưa Việt Nam bứt phá, thoát bẫy thu nhập trung bình và trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao.

Từ chủ trương đúng đến hành động quyết liệt

Còn theo ông Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nhấn mạnh việc xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là bước đi tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực cốt lõi cho giai đoạn phát triển sắp tới.

Chủ trương này phù hợp với quy luật phát triển của thế giới và phát huy được tiềm năng, trí tuệ của dân tộc ta. Khi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực chủ đạo trong mọi ngành kinh tế, Việt Nam sẽ thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, qua đó xây dựng nền kinh tế ngày càng độc lập, tự chủ, tự cường.

Văn kiện Đại hội XIV đã phát đi thông điệp mạnh mẽ; vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ để biến chủ trương đúng đắn đó thành hiện thực trong cuộc sống.

Nhấn mạnh các điểm đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71), GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), khẳng định Nghị quyết khẳng định giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Chính nhận thức này là gốc rễ, nền tảng cho những thay đổi.

Nghị quyết chỉ rõ, để giáo dục và đào tạo có sự phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới, thì các luật, chính sách nhất định phải thay đổi theo. Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo có thể thu hút được mọi nguồn lực, cả hữu hình và vô hình cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và sự tăng trưởng của nhà trường, hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế.

Từ Nghị quyết này có thể thấy, Đảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc biệt và kỳ vọng lớn lao cho giáo dục và đào tạo: Đến 2035 phải có ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học có những lĩnh vực được xếp hạng top 100 thế giới; đến 2045 Việt Nam vào top 20 quốc gia có nền giáo dục công bằng, hiện đại nhất thế giới.

Đồng tình và đánh giá cao chủ trương ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học của Nghị quyết 71, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nêu quan điểm, tri thức và các công nghệ cao xuất phát từ các nhà khoa học, từ các phòng thí nghiệm của các trường đại học, viện nghiên cứu; do đó, giáo dục đại học có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện thành công Nghị quyết 57.

Nghị quyết 57 không thể thành công như mong đợi nếu giáo dục đại học Việt Nam không đổi mới và cất cánh. Nghị quyết 71 khẳng định bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính.

Từng là người tham gia công tác chỉ đạo điều hành, lãnh đạo một trường đại học, GS.TS Nguyễn Đình Đức tâm đắc và đánh giá đây là chỉ đạo sáng suốt, quyết liệt, đúng và trúng với mong mỏi của các cơ sở giáo dục đại học. Những năm qua, tự chủ đại học như luồng gió mới đã làm thay da đổi thịt nhiều trường đại học, tuy nhiên còn một số điểm nghẽn, hạn chế kìm hãm và ràng buộc.

Với chỉ đạo về tự chủ đại học như vậy, ông tin tưởng các luật, chính sách sẽ được sửa đổi theo tinh thần Nghị quyết và Nghị quyết 71 này thực sự sẽ là “khoán 10” trong giáo dục đại học Việt Nam, đem lại những phát triển mạnh mẽ và đột phá cho giáo dục đại học.

Theo ông Trần Văn Khải, chuyển đổi số toàn diện sẽ mở ra không gian phát triển mới, làm thay đổi phương thức sản xuất và quản trị, giúp chúng ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tư thế của một quốc gia hiện đại, sánh vai cùng các cường quốc.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Liverpool tưng bừng ‘nổ súng’

Liverpool tưng bừng ‘nổ súng’

GD&TĐ - Liverpool thắng đậm Qarabag 6-0 ở lượt cuối vòng bảng để giành vé vào thẳng vòng 1/8, trong khi đối thủ phải đá play-off Champions League 2025-2026