Chọn nghề từ thực tiễn địa phương
Để hạn chế tình trạng học nghề nhưng không có điều kiện áp dụng, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên 1 tỉnh Điện Biên triển khai đào tạo theo hướng xuất phát từ nhu cầu của người dân, điều kiện sản xuất và khả năng tạo việc làm tại từng địa bàn.
Hằng năm, Trung tâm phối hợp với chính quyền xã, phường khảo sát nhu cầu học nghề. Cán bộ đơn vị trực tiếp xuống cơ sở, phối hợp với các tổ chức đoàn thể, trưởng thôn, bản tuyên truyền về ngành nghề đào tạo, quyền lợi và chính sách hỗ trợ người học.
Kết quả đăng ký được tổng hợp theo địa bàn, nhóm nghề và đối tượng. Trên cơ sở đó, Trung tâm xây dựng kế hoạch tuyển sinh, lựa chọn nghề và bố trí lớp học phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Theo ông Trần Ninh Nam - Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên 1, khảo sát nhu cầu không chỉ là hỏi người dân muốn học nghề gì, mà còn phải đánh giá khả năng phát triển nghề sau đào tạo.
“Có những nghề người dân muốn học nhưng điều kiện sản xuất tại địa phương chưa phù hợp hoặc thị trường chưa có nhu cầu. Vì vậy, Trung tâm phải phối hợp với chính quyền cơ sở vừa khảo sát, vừa tư vấn để người lao động lựa chọn nghề có khả năng áp dụng, tạo việc làm và thu nhập”, ông Nam cho biết.
Năm 2026, Trung tâm được giao tuyển mới, đào tạo nghề cho 1.330 người tại 16 xã, phường, với mục tiêu tổ chức 38 lớp. Chỉ tiêu được phân bổ cụ thể để các địa phương chủ động tuyên truyền, rà soát đối tượng và chuẩn bị điều kiện tổ chức đào tạo.
Các xã Thanh Nưa, Thanh An và Thanh Yên được giao đào tạo 140 người mỗi địa phương. Phường Điện Biên Phủ, phường Mường Thanh cùng các xã Na Son, Xa Dung, Mường Luân có chỉ tiêu 105 người. Những địa bàn còn lại được phân bổ từ 35 đến 70 người.
Việc tổ chức lớp ngay tại cơ sở giúp lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo và người có thu nhập thấp giảm thời gian, chi phí đi lại; đồng thời có thể duy trì sản xuất trong thời gian học nghề.
Đào tạo gắn với việc làm, thu nhập
Danh mục đào tạo năm 2026 của Trung tâm gồm cả nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ.
Ở trình độ sơ cấp, người lao động có thể lựa chọn các nghề như kỹ thuật chăn nuôi, phòng trị bệnh cho gia súc, gia cầm; kỹ thuật xây dựng; sửa chữa xe gắn máy; lắp đặt, sửa chữa điện nước sinh hoạt.
Các chương trình đào tạo thường xuyên gồm kỹ thuật trồng trọt, quản lý dịch hại; sản xuất rau an toàn; nuôi cá nước ngọt; nuôi ong lấy mật; trồng mắc ca, cà phê, dứa, khoai sọ, dược liệu; nấu ăn và nghiệp vụ lễ tân. Trung tâm có thể bổ sung ngành nghề khác khi phát sinh nhu cầu thực tế và đáp ứng đủ điều kiện đào tạo.
Sự đa dạng này giúp từng địa phương lựa chọn nghề phù hợp với lợi thế. Những xã có thế mạnh về nông nghiệp ưu tiên các lớp trồng trọt, chăn nuôi. Tại khu vực đô thị hoặc địa bàn có hoạt động dịch vụ, người lao động có thể lựa chọn nghề sửa chữa xe máy, điện nước, xây dựng, nấu ăn hoặc lễ tân.
Ông Trần Ninh Nam cho rằng, mỗi lớp học phải được tính toán từ nhu cầu của người học, điều kiện thực hành và triển vọng sử dụng kỹ năng sau khóa đào tạo.
“Trung tâm không chủ trương mở lớp chỉ để hoàn thành chỉ tiêu. Trước khi tổ chức, đơn vị phải xác định người học có thể áp dụng kiến thức vào đâu, tự tạo việc làm như thế nào hoặc có cơ hội tham gia thị trường lao động hay không”, ông Nam chia sẻ.
Quan điểm này được thể hiện trong kế hoạch năm 2026 với phương châm: “Chỉ tổ chức đào tạo nếu đã dự báo được vị trí việc làm, thu nhập của người lao động sau khi học nghề”.
Tuy nhiên, hiệu quả sau đào tạo còn phụ thuộc vào vốn, đầu ra sản phẩm và khả năng tổ chức sản xuất. Báo cáo của Trung tâm cho thấy, nhiều lao động đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhưng chủ yếu tự tạo việc làm ở quy mô gia đình. Hoạt động liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và bao tiêu sản phẩm vẫn còn hạn chế.
Do đó, khảo sát nhu cầu cần được gắn với định hướng sản xuất, nhu cầu tuyển dụng và thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất cũng cần tham gia từ khâu xác định ngành nghề, xây dựng nội dung đào tạo đến hỗ trợ thực hành và giải quyết việc làm.
Khi nhu cầu học nghề được kết nối với nhu cầu sử dụng lao động và đầu ra sản phẩm, mỗi lớp đào tạo sẽ không chỉ góp phần hoàn thành chỉ tiêu, mà còn mở thêm cơ hội chuyển đổi sinh kế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân vùng khó khăn.