Hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ, không gian phát triển mở rộng, dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước gia tăng mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, đào tạo nghề gắn với bảo đảm việc làm không chỉ là giải pháp trước mắt, mà đang trở thành chiến lược lâu dài, giữ vai trò “chìa khóa” mở ra cơ hội phát triển bền vững cho toàn vùng.
Kỳ vọng nhiều, áp lực nhân lực càng lớn
Chúng tôi coi trường nghề là ‘vườn ươm’ nhân lực. Đầu tư cho đào tạo chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và địa phương. - Ông NGUYỄN VĂN KHOA - Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Bình Thuận
Nhìn trên bản đồ phát triển kinh tế quốc gia, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên sở hữu vị trí địa kinh tế quan trọng, hội tụ các yếu tố “biển – rừng – cao nguyên”. Đây là khu vực kết nối trục Bắc – Nam với hành lang kinh tế Đông – Tây, đồng thời là cầu nối giữa vùng duyên hải năng động với không gian nội địa giàu tiềm năng.
Những năm gần đây, hàng loạt dự án hạ tầng chiến lược được triển khai, tạo động lực mạnh mẽ cho liên kết vùng. Cao tốc Bắc – Nam phía Đông rút ngắn thời gian lưu thông ven biển; cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột mở ra tuyến kết nối trực tiếp giữa Tây Nguyên và duyên hải; các cảng biển nước sâu, khu kinh tế ven biển như Vân Phong từng bước hình thành các trung tâm công nghiệp – logistics mới.
Song hành với phát triển hạ tầng là làn sóng đầu tư vào các lĩnh vực mũi nhọn như công nghiệp chế biến – chế tạo, năng lượng tái tạo, du lịch chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Tây Nguyên không còn chỉ là “thủ phủ cây công nghiệp” truyền thống, mà đang chuyển dịch theo hướng nông nghiệp số, chế biến sâu, công nghiệp phụ trợ và du lịch sinh thái.
Những chuyển động này đặt ra yêu cầu cao về nguồn nhân lực, không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng, kỹ năng nghề, kỷ luật lao động và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Tuy nhiên, cơ cấu lao động tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao động phổ thông và lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ còn lớn, trong khi lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực cơ khí, chế tạo, điện – điện tử, logistics, chế biến nông sản và du lịch chất lượng cao phản ánh tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật. Không ít đơn vị phải tuyển dụng rồi đào tạo lại, làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian sản xuất. Đại diện một doanh nghiệp cơ khí tại Lâm Đồng cho biết, có những vị trí kỹ thuật cần từ 3 đến 6 tháng đào tạo lại trong khi tiến độ đơn hàng không cho phép chậm trễ.
Ở góc độ vĩ mô, nếu bài toán nhân lực không sớm được giải quyết, nguy cơ “đi trước về hạ tầng, tụt hậu về con người” có thể xảy ra, ảnh hưởng đến tiến độ dự án, hiệu quả đầu tư và khả năng thu hút dòng vốn chất lượng cao. Vì vậy, hệ thống giáo dục nghề nghiệp đang được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của vùng, với yêu cầu không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đổi mới căn bản tư duy và phương thức đào tạo.
Từ “dạy những gì có” sang “dạy những gì thị trường cần”
Thời gian qua, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã chủ động chuyển hướng, lấy nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động làm cơ sở định hướng hoạt động đào tạo.
Tại Trường Cao đẳng Đắk Lắk, mô hình liên kết với doanh nghiệp được triển khai bài bản. Ngay từ khâu xây dựng chương trình, nhà trường mời doanh nghiệp tham gia góp ý, đồng thời ký kết đào tạo theo đơn đặt hàng, gắn với các vị trí việc làm cụ thể. Người học không chỉ tiếp cận kiến thức lý thuyết và thực hành tại trường, mà còn trực tiếp thực tập tại nhà máy, khu công nghiệp để làm quen với dây chuyền sản xuất, công nghệ và tác phong công nghiệp.
Với quy mô khoảng 2.000 sinh viên, tỷ lệ người học tốt nghiệp có việc làm của Trường Cao đẳng Đắk Lắk đạt khoảng 80%, trong đó nhiều sinh viên được doanh nghiệp tuyển dụng ngay từ khi còn đang học. TS Đặng Văn Lái - Hiệu trưởng nhà trường, cho biết: “Đơn vị chủ động ký kết hợp tác với các khu công nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn, tạo điều kiện để sinh viên thực tập tại nhà máy, nâng cao tay nghề và kỹ năng làm việc thực tế; nhiều em có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp”.
Khi doanh nghiệp bước vào “lớp học”
Tại Khu du lịch quốc gia Mũi Né (Lâm Đồng), hình ảnh sinh viên Trường Cao đẳng Bình Thuận được các quản lý khách sạn, resort trực tiếp hướng dẫn nghiệp vụ đã trở nên quen thuộc. Từ lễ tân, nhà hàng, buồng phòng đến các khâu vận hành dịch vụ, người học được tiếp cận môi trường làm việc thực tế ngay trong quá trình đào tạo.
Việc luân chuyển thực tập tại nhiều mô hình khách sạn, resort khác nhau giúp sinh viên không chỉ thành thạo kỹ năng nghề, mà còn hình thành tư duy dịch vụ hiện đại, hiểu rõ tiêu chuẩn vận hành của ngành du lịch cao cấp. TS Đỗ Huy Sơn, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Bình Thuận, nhận định sinh viên được làm quen với áp lực công việc và tác phong công nghiệp ngay từ khi còn học nên khi đi làm chính thức hầu như không có độ “vênh” giữa đào tạo và thực tiễn.
Theo ông Nguyễn Văn Khoa - Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Bình Thuận, du lịch Mũi Né – Phan Thiết đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ giỏi chuyên môn mà còn thành thạo ngoại ngữ, kỹ năng mềm và có thái độ làm việc chuyên nghiệp. Vì vậy, hằng năm, Hiệp hội Du lịch Bình Thuận ký kết hợp tác với các cơ sở đào tạo nghề và Trường Đại học Phan Thiết để phát triển nguồn nhân lực; phần lớn sinh viên sau tốt nghiệp đều có việc làm ổn định.
Chuẩn bị nguồn nhân lực cho “cú bứt tốc”
Hiệu quả của đào tạo nghề gắn với việc làm không chỉ thể hiện qua số liệu thống kê, mà còn được minh chứng bằng những câu chuyện thực tế.
Lê Thùy Dung, sinh viên ngành Nghiệp vụ nhà hàng, Trường Cao đẳng Bình Thuận, xuất thân từ gia đình nông dân. Sau khi tốt nghiệp THPT, Dung từng phân vân giữa việc đi làm sớm hay tiếp tục học nghề. Quyết định theo học ban đầu khiến gia đình lo lắng, nhưng chỉ sau hơn hai năm, Dung đã có việc làm ổn định tại một cơ sở du lịch. “Ngay khi còn đi học, em được doanh nghiệp nhận thực tập và cam kết tuyển dụng. Ra trường, em đi làm ngay, không phải chạy vạy xin việc”, Dung chia sẻ.
Câu chuyện của Dung không phải cá biệt. Tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong khu vực, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 90%, thậm chí có ngành đạt 100%. Đáng chú ý, phần lớn việc làm đúng chuyên môn đào tạo, giúp người học sớm ổn định cuộc sống và lập nghiệp ngay tại địa phương.
Theo ông Nguyễn Thái Bình - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Bách khoa Tây Nguyên, khi Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được xác định là cực tăng trưởng mới, dòng vốn đầu tư vào công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch dự báo gia tăng mạnh. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực.
“Nhà trường không chỉ mở rộng quy mô tuyển sinh, mà còn cơ cấu lại ngành nghề, ưu tiên các lĩnh vực đang thiếu nhân lực như công nghệ ô tô, logistics, nông nghiệp số, quản trị dịch vụ”, ông Bình cho biết.
Hiện, Trường Cao đẳng Bách khoa Tây Nguyên đào tạo 25 ngành, nghề ở các trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp, với hơn 1.600 học sinh, sinh viên theo học trong năm học 2025 - 2026. Đây là nguồn cung nhân lực quan trọng, góp phần trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Những thách thức để xóa bỏ khoảng cách giữa học và làm
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, đào tạo nghề gắn với bảo đảm việc làm tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Thách thức lớn là sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Ở một số địa phương, ngành nghề đào tạo còn dàn trải, chưa bám sát nhu cầu thị trường. Trang thiết bị thực hành tại nhiều cơ sở đào tạo còn lạc hậu so với công nghệ sản xuất hiện đại của doanh nghiệp. Đội ngũ giáo viên thực hành thiếu kinh nghiệm thực tế, chưa theo kịp tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ.
Bên cạnh đó, tâm lý sính bằng cấp, chuộng đại học vẫn khá phổ biến, khiến công tác tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp gặp nhiều khó khăn, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số – nơi nhu cầu học nghề gắn với việc làm rất lớn.
Để đào tạo nghề thực sự trở thành “bệ đỡ” cho phát triển vùng, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là tăng cường vai trò của Nhà nước trong dự báo nhu cầu nhân lực, đồng thời làm cầu nối hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp. Chính sách đặt hàng đào tạo theo nhu cầu xã hội cần được triển khai thực chất, tránh hình thức.
Song song đó, cần đầu tư trọng điểm cho một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, gắn với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn của từng địa phương, từng vùng. Cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo – từ xây dựng chương trình, giảng dạy đến đánh giá và tuyển dụng – cần rõ ràng, đủ sức hấp dẫn.
Đặc biệt, công tác hướng nghiệp cần được đẩy mạnh từ bậc phổ thông, giúp học sinh và phụ huynh thay đổi nhận thức, hiểu rằng học nghề là con đường lập nghiệp bền vững, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.
Trong hành trình vươn lên trở thành cực tăng trưởng mới, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên không thể chỉ dựa vào vốn đầu tư hay hạ tầng hiện đại, mà cần đặt con người ở vị trí trung tâm. Nguồn nhân lực có tay nghề, kỷ luật và khả năng thích ứng cao chính là nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.
“Khi đào tạo nghề gắn chặt với bảo đảm việc làm, khi nhà trường và doanh nghiệp thực sự bắt tay, khoảng cách giữa ‘học’ và ‘làm’ sẽ dần được xóa bỏ. Khi đó, các khu công nghiệp ven biển hay cao nguyên sẽ không còn ‘khát’ nhân lực, mà được tiếp sức bởi lực lượng lao động trẻ, lành nghề, tự tin bước vào guồng quay phát triển”, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Bách khoa Tây Nguyên nhấn mạnh.
Mô hình ‘đào tạo kép’, ‘đào tạo theo địa chỉ sử dụng’ đang từng bước lan tỏa tại nhiều địa phương như Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk… Ở các ngành mũi nhọn như cơ khí, điện - điện tử, công nghệ ô tô, chế biến nông lâm sản, du lịch - khách sạn, năng lượng tái tạo…, vai trò của doanh nghiệp ngày càng trở nên then chốt, góp phần quyết định chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.