Truyền tri thức, trao chuẩn mực

GD&TĐ - Theo TS Cù Ngọc Phương - Trưởng khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, muốn hình thành hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam, nhà trường phải tạo môi trường để người học được trải nghiệm, phản tư, tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.

TS Cù Ngọc Phương và sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: NVCC
TS Cù Ngọc Phương và sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: NVCC

Chuyển từ dạy sang tổ chức đời sống giáo dục theo giá trị

- Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, cơ sở giáo dục cần làm gì để hệ giá trị, chuẩn mực con người Việt Nam được hình thành thành phẩm chất, hành vi của học sinh, sinh viên, thay vì chỉ dừng ở truyền thụ kiến thức?

truyen-tri-thuc-trao-chuan-muc-2.jpg
TS Cù Ngọc Phương.

- Trước hết, cần chuyển từ dạy về giá trị sang tổ chức đời sống giáo dục theo giá trị. Lòng yêu nước phải được thể hiện qua ý thức gìn giữ văn hóa, trách nhiệm với cộng đồng và năng lực đóng góp; trung thực phải trở thành nguyên tắc của học tập, nghiên cứu, đánh giá; nhân ái, tôn trọng, trách nhiệm phải hiện diện trong các quan hệ hằng ngày. Các giá trị cần được cụ thể hóa thành quy tắc ứng xử, tiêu chí đánh giá và những hành vi có thể quan sát.

Thứ hai, phải xem người học là chủ thể đang hình thành nhân cách, có tiếng nói, khác biệt và khả năng tự định hướng. Học sinh, sinh viên cần được tham gia xây dựng quy tắc, phản biện thông tin, lựa chọn phương án hành động, tự đánh giá, chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nhà trường vì thế phải là nơi người học thực hành dân chủ và tự chủ, không chỉ học các khái niệm về dân chủ, tự chủ.

Thứ ba, cần xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý như những nhân cách giáo dục. Sự công bằng trong đánh giá, minh bạch trong quản trị, thái độ tôn trọng người học và tính nhất quán giữa lời nói với hành động có sức giáo dục sâu hơn lời khuyên đạo đức đơn thuần. Chính cách nhà trường vận hành tạo nên một “chương trình giáo dục ẩn”, có thể củng cố hoặc phủ định các giá trị được tuyên bố.

Thứ tư, chương trình giáo dục phải kết nối tri thức với trải nghiệm và phản tư. Học tập dự án, phục vụ cộng đồng, tranh biện, thực tập nghề nghiệp, xử lý tình huống đạo đức chỉ có ý nghĩa khi người học được suy ngẫm về lựa chọn, hậu quả và trách nhiệm của mình. Phản tư giúp trải nghiệm nhất thời chuyển thành nhận thức, thói quen bền vững.

Thứ năm, chuyển đổi số phải đi cùng khai minh số và đạo đức số. Người học cần biết kiểm chứng thông tin, nhận diện thiên lệch của dữ liệu và thuật toán, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tôn trọng bản quyền, sử dụng AI minh bạch, duy trì tư duy độc lập. Hội nhập quốc tế cũng cần được thực hiện trên nền tảng bản sắc có khả năng tự phản tỉnh: biết tiếp nhận các giá trị phổ quát nhưng không hòa tan, biết gìn giữ, làm giàu những giá trị tốt đẹp của dân tộc.

Sau cùng, việc hình thành phẩm chất phải được đánh giá qua hành vi và sự tiến bộ theo thời gian, không chỉ qua điểm số hay khả năng ghi nhớ. Cần quan sát cách người học hợp tác, thực hiện cam kết, ứng xử với khác biệt, sử dụng công nghệ, giải quyết xung đột, sửa chữa sai lầm. Giáo dục chỉ hoàn thành sứ mệnh khi điều đúng trở thành lựa chọn tự nguyện, có trách nhiệm của người học.

- Vậy đâu là điều quyết định để giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường tạo được chuyển biến thực chất về hành vi của học sinh, thay vì chỉ dừng ở hoạt động mang tính phong trào?

- Điều quyết định nằm ở khả năng biến chuẩn mực thành nếp sống thường ngày của nhà trường. Đạo đức được hình thành bền vững khi học sinh được thực hành lặp lại, nhận phản hồi, tự điều chỉnh và chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Trước hết, phải bảo đảm sự thống nhất giữa các điều được dạy, yêu cầu và thực sự diễn ra trong đời sống học đường. Nhà trường không thể nói về trung thực nhưng dung thứ cho bệnh thành tích, nói về công bằng nhưng đánh giá thiếu minh bạch, hoặc nói về tôn trọng nhưng không lắng nghe học sinh. Khi quy tắc được thực thi công bằng, sai lầm được xử lý theo hướng giáo dục và người học được tôn trọng, chuẩn mực mới có sức thuyết phục.

Thêm đó, mỗi giá trị phải chuyển thành nhiệm vụ và tình huống hành động cụ thể. Trung thực được rèn trong kiểm tra, học tập, sử dụng AI; trách nhiệm thể hiện qua việc hoàn thành nhiệm vụ và giữ cam kết; nhân ái, tôn trọng thể hiện trong cách ứng xử với người khác, cả trực tiếp lẫn trên môi trường số. Hành vi đúng cần thực hành thường xuyên cho đến khi trở thành thói quen có ý thức.

Học sinh phải tham gia với tư cách chủ thể; được thảo luận tình huống đạo đức, tham gia xây dựng quy tắc, lựa chọn phương án, tự đánh giá và giải thích lý do cho quyết định của mình. Mục tiêu không phải tạo ra sự phục tùng, mà giúp người học chuyển từ “được quản lý” sang “biết tự quản”, từ làm điều đúng vì sợ bị phạt sang lựa chọn điều đúng vì hiểu ý nghĩa và hậu quả.

Hoạt động giáo dục phải được thiết kế thành chu trình gồm chuẩn bị, trải nghiệm, phản tư và tiếp nối. Thiện nguyện, bảo vệ môi trường hay phục vụ cộng đồng sẽ dễ trở thành hình thức nếu chỉ dừng ở tham gia, báo cáo. Trải nghiệm chỉ có giá trị giáo dục khi học sinh nhận ra mình đã học được gì, hành động của mình ảnh hưởng đến ai và cần thay đổi điều gì.

Sự nêu gương của thầy cô, cán bộ quản lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người học quan sát cách người lớn sử dụng quyền lực, giữ lời hứa, nhận lỗi và đối xử với sai lầm. Sự công bằng, minh bạch, bao dung, nhất quán là phương tiện giáo dục đạo đức có sức thuyết phục trực tiếp nhất.

Hiệu quả cần được đo bằng sự thay đổi bền vững trong hành vi: Khả năng tự kiểm soát, hợp tác, giữ cam kết, tôn trọng khác biệt, nhận lỗi và sửa sai. Khi học sinh vẫn lựa chọn điều đúng ngay cả khi không có người giám sát, giáo dục đạo đức mới thực sự chuyển từ kiểm soát bên ngoài thành năng lực tự định hướng bên trong.

truyen-tri-thuc-trao-chuan-muc-1.jpg
Cô và trò Trường Tiểu học và THCS Huy Bắc (xã Phù Yên, Sơn La) trong giờ học về đạo đức, pháp luật và văn hóa trong môi trường số. Ảnh: NTCC

Thống nhất hệ chuẩn mực

- Cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội như thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên?

- Cơ chế phối hợp cần được xây dựng theo hướng thường xuyên, có tổ chức, phân định rõ trách nhiệm và vận hành bằng quy trình cụ thể, thay vì chỉ liên hệ khi phát sinh vấn đề. Gia đình đặt nền móng về tình cảm, nếp sống; nhà trường tổ chức giáo dục có mục tiêu; xã hội cung cấp môi trường thực tiễn để người học thực hành trách nhiệm công dân.

Các bên cần thống nhất hệ chuẩn mực và các biểu hiện hành vi cần hình thành ở từng giai đoạn phát triển. Sự thống nhất này phải được thể hiện trong quy tắc ứng xử, cách khen thưởng, kỷ luật, hỗ trợ người học, tránh tình trạng mỗi môi trường truyền đi một thông điệp khác nhau.

Đặc biệt, phải phân định rõ chức năng, trách nhiệm: Gia đình nuôi dưỡng nền tảng tình cảm, ý thức giới hạn, thói quen ứng xử; nhà trường giữ vai trò định hướng, tổ chức, theo dõi quá trình giáo dục; các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, truyền thông, cộng đồng địa phương tạo cơ hội trải nghiệm nghề nghiệp, lao động, phục vụ cộng đồng và thực hành công dân. Phối hợp hiệu quả là sự bổ sung chức năng, không phải thay thế hoặc đẩy trách nhiệm cho nhau.

Ngoài ra, cần thiết lập đầu mối, kênh trao đổi hai chiều, quy trình phản hồi rõ ràng. Nhà trường có lịch trao đổi định kỳ, phương thức bảo mật thông tin, quy trình tiếp nhận cảnh báo, kế hoạch can thiệp khi xuất hiện khó khăn. Xử lý hành vi không chỉ quy lỗi, mà phải phân tích nguyên nhân, bối cảnh, mức độ ảnh hưởng, trách nhiệm của các bên liên quan.

Quan trọng không kém là mỗi chương trình phối hợp phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng, người phụ trách, nguồn lực, thời gian, tiêu chí đánh giá. Hoạt động cần gắn với nhu cầu thực tế của người học và được theo dõi từ khâu chuẩn bị đến phản hồi sau trải nghiệm, tránh tình trạng ký kết nhiều nhưng thiếu hành động cụ thể.

Học sinh, sinh viên phải được tham gia vào quá trình phối hợp với việc được bày tỏ quan điểm, tham gia xây dựng quy tắc, lựa chọn hoạt động, tự đánh giá sự tiến bộ. Cơ chế phối hợp không nên biến người học thành đối tượng bị kiểm soát từ nhiều phía, mà phải giúp họ phát triển năng lực tự quản, tự chịu trách nhiệm.

Sau cùng, hiệu quả phối hợp phải được đánh giá bằng sự tiến bộ của người học theo thời gian, thông qua nhiều nguồn thông tin, bối cảnh. Các chỉ báo có thể gồm việc thực hiện cam kết, khả năng tự kiểm soát, cách giải quyết xung đột, thái độ với khác biệt, hành vi trên môi trường số và khả năng nhận lỗi, sửa sai.

truyen-tri-thuc-trao-chuan-muc-4.jpg
Học sinh Trường THPT Lam Kinh (Thanh Hóa) tham gia ngoại khóa về phòng chống thuốc lá, bạo lực học đường. Ảnh: NTCC

Làm chủ công nghệ bằng lý trí và trách nhiệm

- Trong bối cảnh AI và môi trường số phát triển mạnh, giáo dục văn hóa số, đạo đức số cần được triển khai thế nào để bồi dưỡng giá trị, chuẩn mực ứng xử của người học?

- Giáo dục văn hóa số, đạo đức số phải hướng đến năng lực làm chủ công nghệ bằng lý trí và trách nhiệm. Mục tiêu không chỉ sử dụng công nghệ an toàn, mà còn biết kiểm chứng thông tin, tôn trọng quyền của người khác và chịu trách nhiệm đối với dấu vết số cũng như sản phẩm do mình tạo ra.

Việc đầu tiên là cụ thể hóa các chuẩn mực ứng xử số. Trung thực thể hiện ở việc không giả mạo thông tin, không đạo văn, không dùng AI để che giấu năng lực thực. Trách nhiệm thể hiện ở việc cân nhắc hậu quả trước khi đăng tải hoặc chia sẻ. Tôn trọng thể hiện qua bảo vệ danh dự, quyền riêng tư, bản quyền và sự khác biệt. Công bằng đòi hỏi nhận diện thiên lệch của dữ liệu, thuật toán.

Đồng thời, giáo dục số phải phát triển năng lực phán đoán, không chỉ kỹ năng vận hành công cụ. Người học biết xác định nguồn, đánh giá độ tin cậy, nhận diện nội dung sai lệch, hiểu mục đích thu thập dữ liệu và cân nhắc tác động của việc sử dụng hoặc chia sẻ thông tin. Tư duy phản biện, khả năng tự kiểm chứng là điều kiện để năng lực số trở thành năng lực công dân.

Việc sử dụng AI phải gắn với liêm chính học thuật và trách nhiệm trí tuệ. Nhà trường quy định rõ phạm vi được phép, bị hạn chế hoặc không được sử dụng AI; yêu cầu khai báo mức độ hỗ trợ, kiểm tra độ chính xác, trích dẫn phù hợp và chịu trách nhiệm cuối cùng về sản phẩm. AI nên hỗ trợ tìm kiếm, gợi ý, phản biện, không thay thế tư duy độc lập, năng lực tự học và sáng tạo.

Văn hóa số, đạo đức số cần được tích hợp vào môn học, hoạt động trải nghiệm, quản trị nhà trường. Người học được tiếp cận các vấn đề như tin giả, bắt nạt trực tuyến, dữ liệu cá nhân, bản quyền, dấu vết số, trách nhiệm khi sử dụng AI thông qua tình huống thực tế, thảo luận và phản tư.

Nhà trường phải xây dựng môi trường số an toàn, minh bạch, bao gồm quy tắc ứng xử, cơ chế bảo vệ dữ liệu, tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ người bị tổn thương, quy trình xử lý vi phạm. Biện pháp kỷ luật kết hợp bảo vệ cộng đồng với giáo dục phục hồi, giúp người học nhận thức hậu quả, khắc phục sai phạm, điều chỉnh hành vi.

Giáo viên và gia đình cần nâng cao năng lực số, trách nhiệm nêu gương. Người lớn phải sử dụng công nghệ có chuẩn mực, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, không xâm phạm quyền riêng tư, không cổ vũ nội dung gây tổn thương. Sự nhất quán của người lớn tạo nên môi trường đạo đức số đáng tin cậy cho người học.

Hiệu quả giáo dục cần được đánh giá trên bốn phương diện: nhận thức, năng lực phán đoán, hành vi thực tế, sự tiến bộ. Khi người học biết sử dụng AI mà vẫn duy trì tư duy độc lập, biết thể hiện bản thân nhưng tôn trọng phẩm giá người khác và biết khai thác dữ liệu mà không xâm phạm quyền riêng tư, công nghệ mới thực sự phục vụ sự phát triển con người.

- Xin cảm ơn Tiến sĩ!

“Cơ sở giáo dục không chỉ truyền đạt tri thức mà phải kiến tạo môi trường mà các giá trị được trải nghiệm, thực hành, kiểm chứng bằng đời sống. Giá trị chỉ trở thành phẩm chất khi được chuyển hóa thành động cơ, năng lực phán đoán và cách ứng xử tương đối ổn định của người học”, TS Cù Ngọc Phương.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ