Sư tử làng Búng lên màn ảnh rộng: Hành trình đánh thức di sản

GD&TĐ - Từ những sợi đay mộc mạc của làng Búng đến màn ảnh rộng, hình ảnh sư tử dân gian đang mang theo một câu chuyện văn hóa ít được biết đến.

Hình ảnh sư tử được làm từ sợi đay, mo cau, dây mây trong dịp Trung thu tại làng Búng.
Hình ảnh sư tử được làm từ sợi đay, mo cau, dây mây trong dịp Trung thu tại làng Búng.

Sự xuất hiện của sư tử làng Búng trong bộ phim “Hộ linh tráng sĩ” không chỉ tạo dấu ấn thị giác, mà còn gợi mở cách điện ảnh tìm kiếm và đánh thức “hồn Việt” từ những di sản bình dị.

Lát cắt văn hóa trên màn ảnh rộng

Trong dòng chảy điện ảnh cổ trang Việt Nam, những màn giao đấu, rượt đuổi thường tạo nhịp điệu mạnh và kịch tính. Theo họa sĩ - nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế, để thế giới lịch sử trên màn ảnh có chiều sâu, không thể thiếu những khoảng lặng của âm nhạc, vũ đạo và nghệ thuật hình thể.

Trong “Hộ linh tráng sĩ”, cảnh sư tử làng Búng xuất hiện giữa đêm Trung thu đã tạo một khoảng nghỉ thẩm mỹ, mở ra một lát cắt sinh động về đời sống văn hóa cộng đồng. Làng Búng nay thuộc xã Vạn Xuân (Hưng Yên), từng nổi tiếng với nghề trồng đay và có xưởng chế biến sợi đay.

Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, vào những lúc nông nhàn, đàn ông trong làng làm đầu và đuôi sư tử để trẻ em vui chơi mỗi dịp Trung thu. Từ những sản phẩm ban đầu còn thô sơ, nghề làm sư tử dần trở thành nghề truyền thống, được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Sợi đay, mo cau, dây mây và những vật liệu gần gũi với đời sống nhà nông tạo nên một linh vật có diện mạo rất riêng.

Đầu sư tử với đôi mắt trợn tròn, mày rậm, răng sắc, đường nét khỏe khoắn, không cầu kỳ nhưng giàu sức biểu cảm. Theo lệ làng xưa, sư tử chỉ xuất hiện vào dịp Trung thu, khi vụ mùa đã hoàn tất. Người dân tin rằng rước sư tử vào nhà không chỉ đem đến niềm vui mà còn giúp xua đuổi tà khí, cầu mong bình an, may mắn và sung túc.

Đằng sau một màn múa tưởng như đơn giản lại là yêu cầu khắt khe về sức lực và sự phối hợp. Chỉ riêng phần đầu sư tử đã nặng 15 - 20kg. Người múa phải vừa mang đầu vừa nhảy, xoay, cúi, bật liên tục theo tiếng trống. Cùng với đó là tiếng thanh la và sự xuất hiện của ông Địa, chú Tễu với chiếc quạt mo.

Tất cả tạo thành một hình thức diễn xướng, nơi âm nhạc, chuyển động và không khí lễ hội hòa làm một. Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế cho biết, ông từng cùng họa sĩ Hoàng Trung Dũng về làng Búng tìm hiểu những chiếc đầu sư tử bằng râu đay và trực tiếp thử đội để cảm nhận sức nặng của linh vật.

Theo ông, nghệ thuật múa có thể tạo “chiếc cầu nối” giữa võ thuật giàu tính động và tâm lý nhân vật thiên về chiều sâu nội tâm; nếu các thế võ tạo độ căng, vũ đạo chính là khoảng lặng mang chất thơ. Trong “Hộ linh tráng sĩ”, tiếng trống hội mộc mạc cùng điệu nhún nhảy của sư tử làng Búng tạo nên sắc thái hoài cổ, huyền bí mà giàu sức sống.

Quan trọng hơn, cảnh múa đưa âm nhạc, trang phục và sinh hoạt cộng đồng vào câu chuyện sử thi, giúp thế giới cổ trang không chỉ đẹp về hình thức mà còn có hơi thở văn hóa. Bởi lịch sử không chỉ có chiến trận, thành quách hay những sứ mệnh lớn lao. Lễ hội, âm nhạc, trò diễn và tín ngưỡng dân gian mới là những chất liệu giúp tái hiện đời sống của một cộng đồng từng tồn tại, từ đó tạo chiều sâu cho phim lịch sử, dã sử.

su-tu-lang-bung-2.jpg
Phim 'Hộ linh tráng sĩ' chọn sư tử làng Búng làm chất liệu văn hóa cộng đồng.

Điện ảnh trao đời sống mới cho di sản

Theo nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế, điểm đáng chú ý hơn cả là bộ phim đã tìm đến một hình thức sư tử rất khác với hình ảnh quen thuộc của múa lân - sư- rồng hiện đại. Trong đời sống đương đại, công chúng đã quen với những đầu lân rực rỡ, tạo hình cầu kỳ và màn biểu diễn võ thuật. Sư tử làng Búng mang đến một diện mạo khác: không sừng, mộc mạc, bện từ sợi đay.

Nét tạo hình này gợi liên tưởng đến một số hình thức múa sư tử cổ ở Đông Á, nhưng chủ yếu mở ra hướng nghiên cứu về giao lưu văn hóa khu vực. Với điện ảnh, giá trị đáng trân trọng hơn cả là tìm thấy những chất liệu riêng của từng vùng đất, cộng đồng, qua đó tạo dựng một thế giới cổ trang Việt chân thực và giàu bản sắc.

Sư tử làng Búng không chỉ là sản phẩm thủ công mà còn chứa đựng ký ức Trung thu, nghề truyền thống, kỹ thuật múa và những quan niệm dân gian được cộng đồng lưu giữ. Trước sức hút của nghệ thuật múa lân - sư rồng hiện đại, không gian hiện diện của sư tử râu đay làng Búng ngày càng thu hẹp.

Với di sản dân gian, đáng lo không chỉ là mất hiện vật mà còn là mất người thực hành và thế hệ kế tiếp. Trong hoàn cảnh ấy, điện ảnh có thể tạo ra đời sống mới cho di sản. Khi chiếc đầu sư tử làng Búng bước lên màn ảnh rộng, nó có cơ hội đến với những khán giả chưa từng biết đến vùng đất này, từ đó khơi gợi sự quan tâm tới phong tục, nghề thủ công và nghệ thuật diễn xướng dân gian.

su-tu-lang-bung-4.jpg

Tuy nhiên, đưa di sản vào điện ảnh không thể chỉ dừng ở việc sử dụng như một đạo cụ. Chất liệu văn hóa cần được hiểu đúng về nguồn gốc, ý nghĩa và không gian thực hành để không trở thành lớp trang trí cho phim cổ trang. Với “Hộ linh tráng sĩ”, sư tử làng Búng có thể xem là một thử nghiệm trong việc đưa di sản vào ngôn ngữ điện ảnh.

Dẫu trường đoạn múa còn có thể được khai thác sâu hơn, lựa chọn này cho thấy “hồn Việt” đôi khi không nằm ở những biểu tượng lớn lao, mà bắt đầu từ những chất liệu bình dị, chân thực.

Từ sợi đay, mo cau, dây mây đến công nghệ điện ảnh hiện đại, con sư tử từng theo trẻ nhỏ chơi Trung thu nay bước vào thế giới dã sử, mang theo tiếng trống hội, sức lực của trai làng và ký ức cộng đồng. Khi được kể bằng ngôn ngữ sáng tạo, di sản không chỉ được lưu giữ mà còn có cơ hội tiếp tục sống trong văn hóa đương đại.

“Dù vẫn còn những tiếc nuối khi điệu múa chưa được đẩy lên thành một trường đoạn vũ khúc bùng nổ do hạn chế về nhân sự biên đạo, nhưng nỗ lực của “Hộ linh tráng sĩ” vẫn là tín hiệu đáng tự hào. Bằng việc tôn vinh hình ảnh sư tử làng Búng, bộ phim đã chứng minh kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam luôn chứa đựng những báu vật vô giá. Khi được khai thác bằng tâm huyết và tư duy đúng đắn, di sản cổ xưa sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc, thổi hồn cho điện ảnh vươn xa” - Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ