3 trụ cột quan trọng của giáo dục đại học
Phát biểu tại hội nghị, PGS.TS Phạm Văn Thuần – Giám đốc Học viện Quản lý giáo dục nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên Học viện tổ chức diễn đàn nghiên cứu khoa học chung cho các thế hệ người học. Hoạt động không chỉ tạo không gian học thuật, kết nối nghiên cứu mà còn hướng tới chào mừng kỷ niệm 50 năm thành lập Học viện vào tháng 10 tới.
Theo PGS.TS Phạm Văn Thuần, nghiên cứu khoa học là một trong ba trụ cột quan trọng của giáo dục đại học bên cạnh đào tạo và phục vụ cộng đồng. Với Học viện Quản lý giáo dục, ba trụ cột này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, trong đó hoạt động nghiên cứu và bồi dưỡng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
“Điểm khác biệt của trường đại học so với các cơ sở giáo dục phổ thông chính là chất nghiên cứu. Muốn trở thành nhà khoa học, người học phải bắt đầu nghiên cứu ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường”- PGS.TS Phạm Văn Thuần chia sẻ.
Lãnh đạo Học viện Quản lý cho rằng, hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ giúp người học tích lũy tri thức, rèn luyện tư duy học thuật mà còn tạo môi trường gắn kết giữa giảng viên với sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh thông qua các đề tài, dự án nghiên cứu.
Đề cập bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay, PGS.TS Phạm Văn Thuần nhấn mạnh vai trò của các nghị quyết lớn của Đảng và Nhà nước về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đổi mới giáo dục đại học. Trong đó, các sản phẩm nghiên cứu, công bố khoa học quốc tế đang trở thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng và vị thế của cơ sở giáo dục đại học.
Người học “bắt tay” vào nghiên cứu
Trình bày tham luận “Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có trách nhiệm trong giáo dục và bài học cho Việt Nam”, nghiên cứu sinh Ngô Ngọc Linh – lớp K29, ngành Quản lý giáo dục cho rằng, AI đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với giáo dục toàn cầu.
AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý, tổ chức và vận hành giáo dục. Công nghệ này hiện được ứng dụng trong kiểm tra, đánh giá, cá nhân hóa học tập cũng như quản trị nhà trường.
Từ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là UNESCO và Singapore, đề tài của nghiên cứu sinh Ngọc Linh đã chỉ ra một số nguyên tắc cốt lõi trong quản lý AI có trách nhiệm như: lấy con người làm trung tâm, quản lý theo mức độ rủi ro, phân tầng trách nhiệm và phát triển năng lực AI cho các chủ thể trong giáo dục.
Tuy nhiên, tác giả nhấn mạnh, việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế cần gắn với bối cảnh pháp lý, kinh tế, văn hóa và năng lực quản trị của hệ thống giáo dục Việt Nam. Trong khi Singapore có nền tảng số và cơ chế quản trị dữ liệu tương đối đồng bộ, Việt Nam cần ưu tiên xây dựng các mô hình quản lý khả thi ngay từ cấp cơ sở giáo dục, thay vì sao chép nguyên mẫu.
Theo nghiên cứu, quản lý AI có trách nhiệm không nên được nhìn nhận như một yêu cầu mang tính tuân thủ đơn thuần, mà cần trở thành động lực nâng cao năng lực quản trị, đạo đức nghề nghiệp và chất lượng giáo dục trong tiến trình chuyển đổi số.
Trong thời gian tới, nghiên cứu sinh Ngô Ngọc Linh đề xuất, cơ chế tổ chức thực hiện tại các cơ sở giáo dục – nơi AI được sử dụng trực tiếp trong dạy học, kiểm tra đánh giá, quản lý dữ liệu và tương tác với người học – sẽ tiếp tục là hướng nghiên cứu cần được đào sâu.
Trình bày đề tài “Ứng dụng công nghệ AI trong xây dựng nền tảng thuê trọ trực tuyến thân thiện với người dùng”, sinh viên Hoàng Kim Việt Tân – lớp K15D-CNTT, Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông cho biết, nhóm nghiên cứu đã phát triển nền tảng thuê trọ trực tuyến với đầy đủ các chức năng cơ bản, hỗ trợ người dùng tìm kiếm phòng, xem thông tin chi tiết và đặt lịch xem phòng thuận tiện.
Đề tài tích hợp AI ở mức ứng dụng thông qua chatbot hỗ trợ tư vấn, gợi ý phòng phù hợp, sinh nội dung và tóm tắt thông tin. Giao diện được thiết kế thân thiện, có khả năng mở rộng và tối ưu trải nghiệm người dùng.
Trong thời gian tới, nhóm dự kiến tiếp tục phát triển các tính năng như tích hợp bản đồ tương tác, định vị phòng trọ, xác thực chủ trọ bằng KYC, phát hiện tin giả, cá nhân hóa gợi ý theo hành vi người dùng, đồng thời xây dựng phiên bản ứng dụng di động và tối ưu hiệu năng hệ thống.
Theo Ban Tổ chức, hội nghị năm nay có 43 bài nghiên cứu được tuyển chọn, tập hợp trong kỷ yếu khoa học khoảng 600 trang, phản ánh sự tham gia tích cực của người học trong các hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện.