Chuẩn bị cho năm học mới

Kỳ vọng thay đổi từ chính sách

GD&TĐ - Năm học 2026-2027 mở ra nhiều cơ hội đổi mới khi hàng loạt chính sách giáo dục quan trọng bắt đầu được triển khai.

Học sinh Phenikaa School. Ảnh: NTCC
Học sinh Phenikaa School. Ảnh: NTCC

Nhà giáo, chuyên gia phân tích tác động, hiến kế để chính sách phát huy hiệu quả, đúng mục tiêu.

GS.TS Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM: Bước chuyển quan trọng của giáo dục đại học

ky-vong-thay-doi-tu-chinh-sach-2.jpg
GS.TS Ngô Thị Phương Lan.

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển quan trọng của giáo dục đại học Việt Nam. Đây là năm học đầu tiên Luật Giáo dục đại học năm 2025 và Luật Nhà giáo được triển khai trong một chu kỳ năm học đầy đủ; đồng thời các định hướng lớn về giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục được cụ thể hóa.

Trước hết, Luật Giáo dục đại học tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện tự chủ trên các phương diện từ tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế; đồng thời gắn tự chủ với công khai, minh bạch, bảo đảm chất lượng, trách nhiệm giải trình.

Luật cũng mở rộng hành lang pháp lý cho giáo dục đại học số, đào tạo trực tiếp, từ xa, kết hợp, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, phát triển chương trình liên ngành và các phương thức học tập linh hoạt. Tuy nhiên, nhận thức về tự chủ phải thay đổi, tự chủ đại học không phải quyền được làm khác, mà là trách nhiệm chứng minh mình làm tốt hơn.

Luật Nhà giáo là dấu mốc quan trọng. Lần đầu tiên đội ngũ nhà giáo có một đạo luật chuyên ngành quy định tương đối toàn diện về vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ, chuẩn nghề nghiệp, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ. Cùng các quy định về chức danh, bổ nhiệm, xếp lương, chính sách này tạo nền tảng để thu hút, giữ chân, phát triển giảng viên giỏi, nhà khoa học và chuyên gia.

Nghị quyết số 71-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 281/NQ-CP thể hiện rõ định hướng gắn giáo dục với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại học trong giai đoạn mới không chỉ là nơi đào tạo và cấp bằng, mà phải từng bước trở thành hạ tầng tri thức, trung tâm đổi mới sáng tạo và chủ thể tham gia giải quyết những vấn đề lớn của đất nước.

Đáng chú ý, từ năm học 2026-2027, chính sách học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP bắt đầu được triển khai đối với các ngành và đối tượng đủ điều kiện. Ở bình diện toàn hệ thống, chính sách này góp phần thu hút người học giỏi, hỗ trợ đào tạo nhân lực trình độ cao và tăng cường năng lực nghiên cứu trong những lĩnh vực quốc gia ưu tiên.

Một trong những thách thức quan trọng hiện nay là thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và năng lực thực thi. Mỗi chính sách cần được chuyển hóa thành kế hoạch hành động với 4 yếu tố rõ ràng: Chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện, thời hạn hoàn thành và chỉ số đánh giá. Hiệu quả cần được đánh giá không chỉ qua tiến độ hoàn thiện thể chế, mà quan trọng hơn là những chuyển biến có thể kiểm chứng về chất lượng đào tạo, trải nghiệm người học và năng lực đội ngũ.

Đồng thời, trao quyền phải đi cùng nâng cao năng lực quản trị. Các trường cần đầu tư đồng bộ cho quản trị dữ liệu, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, bảo đảm chất lượng, an toàn thông tin, liêm chính học thuật, đạo đức sử dụng trí tuệ nhân tạo. Công nghệ có thể nâng cao hiệu quả quản lý và cá thể hóa việc học, nhưng không thể thay thế trách nhiệm sư phạm và mối quan hệ giáo dục giữa thầy với trò. Tự chủ chỉ trở thành động lực phát triển khi quyền quyết định được đặt trên nền tảng trách nhiệm giải trình, văn hóa chất lượng.

Cùng đó, cần thiết lập cơ chế tham vấn, thí điểm, phản hồi chính sách thực chất. Những chính sách tác động trực tiếp đến giảng viên, sinh viên cần có cơ chế tham vấn thực chất; các mô hình mới có phạm vi tác động lớn cần được cân nhắc thí điểm, đánh giá trước khi nhân rộng. Đồng thời, phải tính đến sự khác biệt về nguồn lực giữa các cơ sở giáo dục. Đổi mới phải đi cùng công bằng; chuyển đổi số phải đi cùng khả năng tiếp cận; tự chủ phải đi cùng bảo vệ quyền lợi người học.

Cuối cùng, cần bảo đảm sự thống nhất giữa luật, nghị định, thông tư và quy định nội bộ; giảm thủ tục phát sinh trong quá trình thực hiện. Phương thức quản lý cũng cần tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường giám sát dựa trên rủi ro, chất lượng và kết quả đầu ra, đồng thời tinh gọn thủ tục thực hiện.

Ông Đặng Tự Ân - Giám đốc Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục Việt Nam: Đề án xây dựng trường học ở các xã biên giới - đầu tư cho tương lai, củng cố biên cương

ky-vong-thay-doi-tu-chinh-sach-3.jpg
Ông Đặng Tự Ân.

Đề án đầu tư xây dựng trường học tại các xã biên giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm kiên cố hóa hệ thống trường lớp, phát triển giáo dục vùng khó khăn, đồng thời góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Đây là minh chứng rõ nét cho sự ưu tiên của Nhà nước trong việc tập trung nguồn lực phát triển giáo dục, nhất là ở những địa bàn đặc biệt khó khăn; đồng thời được kỳ vọng tạo chuyển biến rõ nét về điều kiện dạy và học ngay từ năm học 2026-2027 khi các trường đầu tiên được đưa vào sử dụng.

Theo lộ trình, giai đoạn 1 phấn đấu hoàn thành, đưa vào sử dụng 100 trường tại 100 xã biên giới trước 30/8/2026. Giai đoạn 2 sẽ hoàn thành toàn bộ 229 trường trước ngày 30/8/2027. Mỗi trường được quy hoạch trên diện tích từ 5 đến 10 ha, bảo đảm đầy đủ các hạng mục như phòng học, khu nội trú học sinh, nhà công vụ giáo viên, khu thể chất, thư viện, phòng chức năng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị dạy học hiện đại.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, chính sách an sinh cho học sinh được quan tâm. Từ ngày 15/7/2026, học sinh nội trú tại các xã biên giới được hưởng chính sách hỗ trợ tiền ăn lên tới 1,17 triệu đồng mỗi tháng, góp phần giảm bớt khó khăn cho gia đình và tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.

Trong bối cảnh triển khai Chương trình GDPT 2018, cơ sở vật chất đóng vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục. Một môi trường học tập khang trang, an toàn, đầy đủ ánh sáng, thông thoáng không chỉ giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập mà còn bảo đảm sức khỏe thể chất và tinh thần.

Hệ thống trang thiết bị hiện đại sẽ tạo điều kiện để giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành, nghiên cứu, phát huy tính chủ động của học sinh. Đồng thời, các phòng thí nghiệm, thư viện, phòng ngoại ngữ, phòng tin học, khu thể thao và nghệ thuật sẽ góp phần phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực, kỹ năng sống và khả năng sáng tạo của học sinh.

Đặc biệt, các trường học xây mới cần được đầu tư theo hướng đồng bộ hạ tầng số. Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ dừng ở trang bị máy tính hay thiết bị công nghệ mà cần xây dựng một hệ sinh thái số hoàn chỉnh, bao gồm hạ tầng mạng, phần mềm quản lý, học liệu số, nền tảng dạy học trực tuyến và năng lực số của đội ngũ giáo viên, học sinh.

Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá bằng những tiêu chí cụ thể như: Chất lượng học tập của học sinh có được nâng cao hay không; giáo viên có giảm thời gian dành cho các công việc hành chính để tập trung cho chuyên môn hay không; chi phí đầu tư có tương xứng với hiệu quả sử dụng; hệ thống công nghệ có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong 5 - 10 năm tới hay không.

Đây cũng là xu hướng được nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO và OECD khuyến nghị, chuyển từ cách tiếp cận “đầu tư vào thiết bị” sang “đầu tư vào hệ sinh thái số, phát triển năng lực giáo viên và học sinh”. Chỉ khi cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực được đầu tư đồng bộ, giáo dục vùng biên giới mới có thể phát triển bền vững, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Bà Đinh Thị Bình - Phó Chủ tịch UBND xã Long Cốc, Phú Thọ: Chủ trương đúng cần đi đôi với tổ chức thực hiện tốt

ky-vong-thay-doi-tu-chinh-sach-4.jpg
Bà Đinh Thị Bình.

Năm học 2026-2027 có thể xem là một dấu mốc quan trọng khi nhiều chính sách giáo dục mới đồng thời đi vào thực tiễn, đặc biệt các chính sách hướng đến người học.

Một trong những chính sách có ý nghĩa xã hội sâu sắc là đưa vào hoạt động hệ thống trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền.

Đây không chỉ là giải pháp đầu tư cơ sở vật chất mà còn là chính sách tổng thể nhằm bảo đảm quyền học tập, cải thiện điều kiện sống và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới. Qua đó, thu hẹp khoảng cách giáo dục, giữ ổn định dân cư, củng cố an sinh xã hội và góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh tại các địa bàn chiến lược.

Năm học 2026-2027 là dấu mốc với việc thống nhất sử dụng một bộ sách giáo khoa. Đây là bước chuẩn bị cho mục tiêu cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh.

Nghị định quy định miễn phí sách giáo khoa GDPT và miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp đã được ban hành. Theo đó, lộ trình thực hiện miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc sẽ hoàn thành vào năm học 2029-2030.

Tuy vậy, nhiều địa phương đã thực hiện chính sách cấp sách giáo khoa miễn phí cho 100% học sinh ngay từ năm học 2026-2027 như: Quảng Ninh, TPHCM, thành phố Huế, một số xã tại TP Đà Nẵng.

Tôi cho rằng, miễn phí sách giáo khoa là chính sách có ý nghĩa lớn về bảo đảm công bằng trong giáo dục, bởi đây là học liệu thiết yếu mọi học sinh đều cần có. Khi gánh nặng chi phí được giảm bớt, đặc biệt đối với các gia đình ở nông thôn, miền núi và vùng còn nhiều khó khăn, cơ hội tiếp cận giáo dục của học sinh sẽ được bảo đảm tốt hơn.

Để chính sách phát huy hiệu quả bền vững, theo tôi cần quan tâm đồng thời đến khâu tổ chức thực hiện. Cùng với việc bảo đảm đủ sách trước năm học mới, cần xây dựng cơ chế quản lý, bảo quản và tái sử dụng sách giáo khoa một cách khoa học, minh bạch, tránh thất thoát và lãng phí. Đối với những địa phương chưa đủ điều kiện triển khai miễn phí ngay, cần có lộ trình và giải pháp hỗ trợ phù hợp để không tạo ra khoảng cách trong thụ hưởng chính sách giữa các vùng, miền.

Học bổng dành cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP cũng là chính sách đột phá cho người học. Trong bối cảnh đất nước đang ưu tiên phát triển các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân hay công nghệ cao, việc có chính sách hỗ trợ người học không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn góp phần định hướng lựa chọn ngành nghề phù hợp với nhu cầu phát triển quốc gia.

Tuy nhiên, học bổng chỉ là điều kiện ban đầu. Quan trọng hơn là cần tạo được hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và việc làm để sinh viên yên tâm theo học, có cơ hội phát huy năng lực sau khi tốt nghiệp.

Có thể nói, những chính sách nói trên đều mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, lấy người học làm trung tâm và hướng tới mục tiêu bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nếu được tổ chức thực hiện hiệu quả, các chính sách này không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho học sinh, sinh viên mà còn góp phần đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

“Chủ trương đúng cần đi đôi với tổ chức thực hiện tốt. Vì vậy, trong quá trình triển khai, cần lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo; thường xuyên theo dõi, đánh giá, lắng nghe ý kiến từ nhà trường, giáo viên, phụ huynh, người học để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đồng thời, cần đồng bộ về nguồn lực, cơ sở vật chất, đội ngũ và cơ chế thực hiện, phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Chỉ khi chính sách thực sự đi vào cuộc sống và người học là đối tượng thụ hưởng rõ nét nhất thì mục tiêu đặt ra mới được hiện thực hóa, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nền tảng phát triển bền vững cho đất nước”, bà Đinh Thị Bình bày tỏ quan điểm.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ