Cơ hội khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng
Mã hóa tài sản thực đang nổi lên như một trong những xu hướng có ảnh hưởng lớn đối với tài chính toàn cầu, giúp khơi thông những nguồn lực còn “ngủ yên” trong nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, sản xuất, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng nhiều, đây sẽ là hướng phát triển giàu tiềm năng, cần được nghiên cứu nghiêm túc, triển khai thận trọng với tầm nhìn dài hạn.
Tuy nhiên, thị trường tài sản mã hoá nói chung và mã hóa tài sản thực nói riêng chỉ có thể phát triển bền vững khi được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng, dòng tiền minh bạch, hạ tầng an toàn và nhà đầu tư được bảo vệ.
Chia sẻ tại hội nghị “Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026”, TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia lưu ý đến kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiện các quốc gia đang lựa chọn hai hướng tiếp cận chính trong quản lý tài sản mã hóa.
Một số nước xây dựng luật chuyên biệt để điều chỉnh lĩnh vực này, trong khi nhiều quốc gia khác tận dụng hệ thống pháp luật hiện hành và mở rộng phạm vi điều chỉnh thông qua các đạo luật như Luật Thanh toán, Luật Chứng khoán hoặc các quy định tài chính hiện có để quản lý các hoạt động liên quan đến tài sản số.
“Ngay cả cách tiếp cận đối với tiền mã hóa cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Trung Quốc khá thận trọng, gần như cấm hoặc hạn chế tiền mã hóa tư nhân, nhưng lại tương đối cởi mở với tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành (CBDC). Điều đó cho thấy quan điểm và mức độ tự do trong quản lý của mỗi quốc gia là rất khác nhau", vị chuyên gia nói.
Về an ninh mạng, TS Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an cho biết, một hệ sinh thái tài sản số chỉ có thể phát triển lâu dài khi được xây dựng trên nền tảng công nghệ an toàn, dữ liệu được bảo vệ, giao dịch minh bạch, chủ thể có trách nhiệm rõ ràng và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được bảo đảm.
“Quan điểm của Bộ Công an nói chung và lực lượng an ninh mạng, phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói riêng là an ninh mạng không phải là rào cản của đổi mới sáng tạo. Ngược lại, an ninh mạng chính là điều kiện để đổi mới sáng tạo phát triển bền vững và tạo dựng niềm tin cho thị trường”, TS Nguyễn Hồng Quân nêu rõ.
Niềm tin cho tài sản số
Từ kinh nghiệm quốc tế, TS Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam có thể rút ra những bài học quan trọng. Việc quản lý cần dựa trên mức độ rủi ro của từng loại tài sản thay vì chỉ dựa trên tính chất số hóa. Những tài sản có mức độ rủi ro cao cần được giám sát chặt chẽ hơn, trong khi các loại có rủi ro thấp hơn nên được tạo điều kiện phát triển.
Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý riêng đối với stablecoin - loại tài sản số được bảo chứng bằng các đồng tiền pháp định hoặc tài sản có giá trị ổn định.
Một bài học quan trọng khác là triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa giúp cơ quan quản lý đánh giá tác động trước khi áp dụng trên diện rộng.
Theo ông Lực, nếu để thị trường phát triển trước khi có hành lang pháp lý đầy đủ thì nguy cơ bị lợi dụng sẽ rất lớn. Đồng thời, do tài sản mã hóa liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau nên cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan sẽ đóng vai trò quyết định.
Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam cho biết, dòng vốn vào tài sản thực trong năm 2025 tăng khoảng 300%, cao hơn đáng kể so với các nhóm tài sản khác. Tuy nhiên, trở ngại khiến thị trường chưa phát triển tương xứng với tiềm năng không nằm ở công nghệ token hóa (ký tự hoặc mã số được mã hóa), mà ở việc chưa xây dựng được đầy đủ niềm tin cho thị trường vốn.
Theo ông Trung, blockchain (lưu trữ thông tin trong các khối được liên kết bằng mã hóa) có thể hỗ trợ phân phối, chuyển nhượng và thanh toán tài sản, nhưng không thể tự tạo ra niềm tin hay biến một tài sản kém chất lượng thành tài sản tốt. Niềm tin đối với token phải bắt đầu từ dữ liệu đáng tin cậy về tài sản thực, danh tính có thể kiểm chứng của các bên, thông tin xác thực về tài sản và dòng tiền, cùng cơ chế công bố, theo dõi và giám sát liên tục.
Vì vậy, cấu trúc thị trường cần được xây dựng theo trình tự từ tài sản thực, hạ tầng dữ liệu tin cậy đến tài sản số trên một nền tảng pháp lý phù hợp, sau đó mới hình thành token và các kênh phân phối.
Trong cấu trúc này, sàn giao dịch chỉ là một trong nhiều kênh đưa tài sản đến nhà đầu tư; vấn đề quyết định vẫn là loại tài sản được phân phối, chất lượng tài sản và khả năng kiểm chứng dữ liệu phía dưới.
Đối với Việt Nam, ông Trung cho biết, trong khoảng 10 tháng, thị trường đã hình thành các văn bản ở nhiều cấp độ, từ luật, nghị định đến thông tư, đồng thời, tiếp tục chuẩn bị khuôn khổ về định danh và xác thực.
Việt Nam cũng có lợi thế về quy mô nhu cầu bán lẻ, với khoảng 200 tỷ USD tài sản mã hóa đi qua thị trường và khoảng 17 triệu ví hoặc người nắm giữ tài sản mã hóa. Đây có thể là nền tảng quan trọng để phát triển thị trường vốn được số hóa, với điều kiện các lớp dữ liệu, tài sản số và cơ chế phân phối được xây dựng đầy đủ.