rssheader

31/10/2020

Có một đường Trường Sơn in dấu chân thầm lặng của đội quân giáo dục

Nguyễn Thị Trâm - 19/04/2017, 21:19 GMT+07 | Kết nối
Có một đường Trường Sơn in dấu chân thầm lặng của đội quân giáo dục

 
Nhà giáo Đỗ Trọng Văn - Chi hội trưởng Chi hội nhà giáo đi B - gửi đến báo Giáo dục và Thời đại những tấm ảnh tư liệu quý của ông về thời kỳ đi B gian khó
 Nhà giáo Đỗ Trọng Văn ngồi làm việc ở Tiểu ban Giáo dục miền Nam. Ảnh chụp năm 1973

 
Nhà giáo Đỗ Trọng Văn đọc diễn văn trước các GS và SV trường Đại học Văn khoa Sài gòn trong ngày mít tinh Chào mừng chiến thắng miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước ngày 15/5/1975. 

 
Tổ chức học tập chính trị cho Giáo chức và HS, SV đầu năm học 1976 - 1977
 

Trong suốt 14 năm từ năm 1961 đến 1975, 31 đoàn nhà giáo với 2.752 người đã đi trên con đường huyền thoại ấy để tạo nên một mặt trận giáo dục suốt từ vĩ tuyến 17 trở vào, và 111 nhà giáo – chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại, trong số 621 nhà giáo liệt sĩ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chính nhờ đội quân giáo dục ấy cùng với lực lượng nhà giáo tại chỗ và lực lượng bổ sung chi viện từ tháng 5/1975 mà từ ngay sau ngày 30/4/1975 đến tháng 9/1975, tất cả các trường học ở miền Nam đã đồng loạt khai giảng cùng với các trường ở miền Bắc. 
Cuộc hành quân ấy dằng dặc gian khổ kéo dài ít nhất 3 tháng, có khi đến 7,8 tháng, thậm chí một năm nếu có người ốm đau bệnh tật hoặc gặp địch càn.

Mở đầu là Đoàn 1 với 16 người xuất phát từ khu V ngày 22/5/1961, và cuối cùng là đoàn 31 với 195 người đi từ Quảng Trị ngày 12/12/1974. Đoàn đông nhất xuất phát từ Quảng Trị tháng 8/1973 với 251 nhà giáo.

Có biết bao câu chuyện kể trên con đường ấy, và biết bao câu chuyện kể khác khi các nhà giáo đi B không chỉ làm nhiệm vụ với bút mực phấn bảng, mà còn làm đủ mọi nhiệm vụ trong đời sống “ba cùng” với người dân sở tại: cày cuốc trên đồng hoặc lên rẫy lên nương, tuyên truyền địch vận, và cả cầm súng trực tiếp chiến đấu.

Cuộc sống ấy đã tôi rèn cho họ - những nhà giáo đi B, phẩm chất dám dấn thân, chấp nhận mọi thử thách dù khắc nghiệt, âm thầm phấn đấu, để rồi, khi đất nước thống nhất, một số người ở lại miền Nam công tác, một số người khác trở về miền Bắc tiếp tục nhiệm vụ của mình. Và dù ở cương vị nào, những nhà giáo đã một thời là người lính cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, không hề đòi hỏi sự ưu đãi nào mà lẽ ra, họ đáng được hưởng ưu đãi.

Mọi sự tưởng đã đi vào quên lãng. Nhưng không, 15 năm sau ngày đất nước thống nhất, năm 1990, lần đầu tiên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Minh Hạc đã giao nhiệm vụ cho Văn phòng Bộ và Vụ tổ chức cán bộ tập hợp đại diện các nhà giáo đi B của các tỉnh phía Bắc và số anh chị em đang công tác ở Bộ Giáo dục đến họp mặt.

Bộ trưởng còn trao tặng Bằng khen cho một số đồng chí có thành tích tiêu biểu. Anh chị em lâu ngày gặp nhau, mừng mừng tủi tủi trong tình thân mến với nhau, và nghe Bộ trưởng tâm sự chân thành: Tôi cảm thấy mình vô cùng may mắn khi các đồng chí gian khổ vượt Trường Sơn làm nhiệm vụ giáo dục thì tôi lại được Đảng và Nhà nước cho đi học nước ngoài. Điều đó càng làm cho tôi thêm trân trọng những đóng góp của các đồng chí.

Những tưởng rằng đó là sự mở đầu cho việc chăm lo đến những nhà giáo đã có thời gian cống hiến trong gian khổ, hi sinh chiến đấu vì sự nghiệp giáo dục ở miền Nam. Nhưng rất tiếc, cuộc tái ngộ mãi 6 năm sau mới lại được thực hiện nhờ nỗ lực của chính những người trong cuộc đó – các nhà giáo đi B. Ban liên lạc nhà giáo đi B được thành lập, và kể từ đó, suốt 21 năm qua, năm nào các nhà giáo đi B cũng được gặp lại nhau, cùng nhau ôn lại một quãng đời gian khổ mà đẹp đẽ của mình.

Như nhà giáo Đỗ Trọng Văn – Chi hội trưởng Chi hội nhà giáo đi B tâm sự: Chúng tôi gặp nhau ở đây để chia sẻ cả niềm vui chung và riêng, chia sẻ cảm thông với nhiều đồng chí, đồng đội của chúng tôi hiện nay sức khỏe suy giảm nhiều, mang nhiều bệnh tật, không đến dự gặp mặt được. Đâu đó, một số đồng chí còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Chúng tôi cùng nhau chia sẻ, động viên nhau như đã từng động viên nhau nơi chiến trường.

Chi hội nhà giáo đi B thuộc Hội cựu giáo chức cơ quan Bộ giáo dục trở thành một chi hội đặc biệt, bao gồm những “cựu binh giáo dục”. Và rất nhiều tỉnh thành khác cũng có Ban liên lạc nhà giáo đi B. Qua những cuộc gặp mặt này, mà ký ức một thời của các cựu binh giáo dục đã được tập hợp thành những cuốn sách đặc biệt, riêng có của đội ngũ này, như: Kỷ niệm 40 năm K33 vượt Trường Sơn (1964-2004);  Ký ức nhà giáo B2; Kỷ niệm 40 năm đoàn giáo dục-y tế vượt Trường Sơn (1969-2009); Tiểu ban giáo dục R – Một thời để nhờ; Giáo dục giải phóng thời kỳ chống Mỹ cứu nước; Nhà giáo Nghệ An đi B – Một thời để nhớ…

Những ký ức tản mạn ấy chưa làm thỏa lòng những nhà giáo đi B đầy tâm huyết với một thời không thể nào quên. 31 đoàn với 2752 nhà giáo đi B suốt 14 năm ấy, mong muốn được “về chung một mái nhà”, trong một cuốn sách của “đại gia đình các nhà giáo đi B”. GS.TS Nguyễn Mậu Bành – Phó Chủ tịch Hội cựu giáo chức Việt Nam bật mí: Chúng tôi đang triển khai công việc này, tuy nhiên, không biết có đáp ứng được mong ước của các bác không, nhưng dù sao cũng là bắt đầu cho một “mái nhà chung” ấy.

Buổi họp mặt nhà giáo đi B ngày 18/4/2017
Những nhà giáo đi B cùng ôn lại kỷ niệm hoa lửa một thời
GS Nguyễn Mậu Bành - Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam và nhà giáo Nguyễn Lý

  

Đồng đội ngày xưa nay tái hồi thành vợ chồng tri âm tri kỷ: Nhà giáo Lê Hữu Hậu và Võ Thị Nga.

 Những nụ cười tươi tắn của các nhà giáo chiến sĩ một thời
Mong ước ấy thật nhỏ nhoi, mà sao cũng khó thực hiện? Nói gì đến chuyện mai này khi xây dựng được Bảo tàng giáo dục Việt Nam, di sản của những nhân chứng thời kỳ lịch sử đó sẽ có được một vị trí xứng đáng? Mà liệu đến lúc ấy, di sản ký ức và các tư liệu hiện vật của một thời đã qua ấy có còn không, hay lại cũng đi theo họ về với tổ tiên?

Niềm mong ước khiêm tốn ấy đã được các cựu nhà giáo đi B tâm sự chân thành trong cuộc gặp mặt tháng 4 năm 2017. Có bác đã gần 90 tuổi, có bác từ Hà Nam, Sơn Tây cũng về dự. Đặc biệt, có “đôi bạn chiến đấu” năm xưa, cuối đời gặp lại nhau trở thành vợ chồng tri âm tri kỷ là “đôi uyên ương” Lê Hữu Hậu – Võ Thị Nga dù sức khỏe đã sa sút nhưng vẫn “dắt tay nhau” đến gặp mặt.

Bác Nguyễn Lý năm nay 89 tuổi, đi B từ năm 1964, thành thật: “Yếu lắm rồi cô ạ, chả biết còn đi được bao nhiêu lần nữa”. Mà thế thật, quy luật chả ai cưỡng được. Và đương nhiên, nếu không được “cấp cứu” sưu tầm, biên soạn thì những di sản ký ức, các kỷ vật của những nhà giáo đi B cũng sẽ mai một dần theo năm tháng. Thật đáng tiếc sao!

Có thể nói rằng, “nhà giáo đi B” và trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là hai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục. Lẽ nào, tấm thảm lịch sử giáo dục lại bị hổng hai mảng lớn này? Bây giờ đã là quá muộn để giải quyết câu chuyện này. Mong sao…

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự

Xem thêm