Theo đó, cần phát huy đầy đủ vai trò động lực phát triển, tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn, nhất là tự chủ đại học, đầu tư nguồn lực và xây dựng môi trường nghiên cứu, đổi mới sáng tạo đủ mạnh.
Vai trò then chốt
Cho rằng, giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng và kiến thức chuyên sâu để phục vụ xã hội; GS.TS Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhìn nhận, một xã hội được coi là phát triển khi có tỷ lệ dân cư tham gia vào các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật cao và sử dụng tri thức lớn.
Tại các quốc gia phát triển, tỷ lệ công dân học đại học và tốt nghiệp với trình độ chuẩn mực thường cao hơn hẳn so với các nước đang phát triển. Khi một quốc gia sở hữu lực lượng lao động có trình độ tri thức cao, giá trị đóng góp cho nền kinh tế và vị thế toàn cầu của quốc gia đó sẽ được nâng cao đáng kể.
Lấy ví dụ trong ngành bán dẫn, GS.TS Chử Đức Trình cho hay, hiện nay các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu dừng lại ở các khâu thiết kế đơn giản (gia công thiết kế - design outsourcing) hoặc chế tạo liên quan nhiều đến gia công. Nhân lực trong các doanh nghiệp này đa phần có trình độ đại học, cao đẳng, thậm chí trung cấp hoặc phổ thông.
Ngược lại, tại các thị trường đỉnh cao như: Hoa Kỳ, tỷ lệ nhân sự có trình độ tiến sĩ trong các doanh nghiệp bán dẫn rất cao, chiếm từ 10% đến 20% và tỷ lệ lớn thạc sĩ. Điều này cho thấy, phân khúc thị trường lao động trình độ cao mang lại giá trị gia tăng cực lớn cho doanh nghiệp. Do đó, Việt Nam cần phát triển giáo dục đại học để đào tạo ra những thế hệ lao động đủ tri thức, nhằm thu hút các công việc có giá trị cao hơn về nước.
Để nâng tầm vị thế đất nước, GS.TS Chử Đức Trình cho rằng, Việt Nam cần thu hút thêm nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực Nghiên cứu và Phát triển (R&D), bao gồm cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa.
Đội ngũ làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ, R&D và đổi mới sáng tạo cốt lõi bắt buộc phải là những người được đào tạo bài bản ở trình độ đại học và sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Tuy nhiên, bằng cấp chỉ là điều kiện cần. Chất lượng đào tạo mới là yếu tố quyết định, được đo lường qua kiến thức và kỹ năng thực tế của người học.
Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan - đại biểu Quốc hội (đoàn TP Hà Nội), khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là xu hướng, mà đã trở thành động lực phát triển chiến lược của quốc gia.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (Nghị quyết 57) xác định, muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải tạo đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết 71-NQ/TW “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” (Nghị quyết 71) cũng đặt ra yêu cầu cao đối với giáo dục đại học.
Từ định hướng trên, GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh, đại học không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực, mà phải trở thành trung tâm sáng tạo tri thức, ươm mầm tài năng, phát triển công nghệ, kiến tạo tương lai, đóng góp trực tiếp vào năng lực cạnh tranh quốc gia… Điều đó cho thấy, vai trò của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay không chỉ là giảng dạy, mà phải đi đầu trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tạo ra các giá trị mới cho xã hội.
Tháo “nút thắt” cho đại học
Đồng quan điểm, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ mạng lưới bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Việt Nam cho rằng, giáo dục đại học giữ vai trò trung tâm trong phát triển công nghệ lõi của quốc gia.
Muốn có công nghệ lõi, trước hết phải có con người, nguồn nhân lực chất lượng, trình độ cao; muốn có các sản phẩm công nghệ chiến lược, trước hết cần có đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia, nhà quản trị công nghệ và doanh nhân công nghệ được đào tạo bài bản, có năng lực nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ tri thức mới.
Trong bối cảnh hiện nay, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhìn nhận, các đại học nghiên cứu phải trở thành những trung tâm R&D mạnh, nơi kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu, doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của đất nước.
“Nghị quyết 57, Nghị quyết 71 không thể thành công nếu giáo dục đại học Việt Nam không đổi mới và cất cánh. Nếu không có đại học mạnh thì khó có nền khoa học công nghệ mạnh. Nếu không có đại học nghiên cứu đạt trình độ quốc tế thì khó có công nghệ lõi “made by Vietnam”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nêu quan điểm.
Tuy nhiên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhận thấy, một số nút thắt lớn cần được tháo gỡ. Thứ nhất, về thể chế, cơ chế tự chủ đại học. Đại học muốn phát triển nhanh thì phải được trao quyền quyết định nhanh, chịu trách nhiệm rõ ràng và đánh giá bằng kết quả đầu ra. Nếu cơ chế còn nặng tính hành chính, xin - cho, tiền kiểm quá nhiều thì khó tạo ra môi trường sáng tạo đúng nghĩa.
Thứ hai, nút thắt về đầu tư, nhất là đầu tư cho R&D. Các nghiên cứu chứng tỏ rằng, nếu đầu tư cho R&D dưới 2% GDP thì quốc gia chưa thể sáng tạo công nghệ. Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nói về nhân lực và công nghiệp khá nhiều nhưng hầu như ít ai nói về R&D, mặc dù Nghị quyết 57 có nói về phấn đấu năm 2030 đầu tư cho R&D đạt 2% GDP, trong đó đầu tư từ ngân sách khoảng 40% (tức là 0.8% GDP), đầu tư doanh nghiệp là 60% (tức là 1.2% GDP).
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, trong chế độ báo cáo tài chính, hiện chưa có thống kê cho R&D. Theo ước lượng, có lẽ chưa tới 15% ngân sách khoa học công nghệ được bố trí cho R&D, tức là khoảng 0.13% GDP. Ở doanh nghiệp, mức chi cho khoa học công nghệ đã thấp, tỷ lệ chi cho R&D còn thấp nữa.
Trung Quốc chi quốc gia cho R&D đạt mức 2.8% và theo chuẩn OECD. Mức chi trung bình của thế giới cho R&D hiện nay ở mức 2% GDP. Các nước đầu tư cho R&D “khủng” là Hàn Quốc (4.94%), Israel (6.35%). Chi quốc gia của Mỹ cho R&D ở mức 3.45% GDP, nhưng do quy mô kinh tế lớn, nên tổng số chiếm 40-45% tổng chi cho toàn cầu. Như vậy, chúng ta còn khoảng cách khá xa về năng lực R&D so với thế giới.
Thứ ba, thiếu các phòng thí nghiệm tiên tiến, hiện đại. Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, hiện đầu tư cho đại học, đặc biệt đầu tư cho nghiên cứu và phòng thí nghiệm còn thấp so với yêu cầu phát triển.
Thứ tư, nút thắt về chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, cần có cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế, cũng như giữ chân các tài năng trẻ trong nước.
Với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trường đại học, cần được đánh giá theo chuẩn mực khoa học, hiệu quả nghiên cứu, năng lực đào tạo và đóng góp cho phát triển công nghệ, chứ không nên chỉ bằng các tiêu chí hành chính.
Thứ năm, nút thắt trong liên kết giữa đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp - Nhà nước. Cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu rõ ràng, cơ chế đồng tài trợ, phòng thí nghiệm liên kết, trung tâm xuất sắc và các chương trình đào tạo theo nhu cầu công nghệ chiến lược của quốc gia.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, phải coi giáo dục đại học không chỉ là lĩnh vực chi ngân sách, mà là khoản đầu tư phát triển. Đầu tư cho đại học hôm nay là tạo ra năng lực công nghệ, cạnh tranh và tự chủ của đất nước trong 10, 20, 30 năm tới.