Hai cuộc chiến tranh, 3 người con mãi mãi không về
Những ngày cuối tháng Bảy lịch sử, khói hương nghi ngút trong gian nhà nhỏ của gia đình liệt sĩ Lê Viết Hiển (thôn Mỹ Đà, xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Trên bàn thờ, di ảnh của liệt sĩ được đặt trang trọng bên tấm Bằng Tổ quốc ghi công.
Ông Lê Viết Bằng (SN 1967) thắp nén hương lên bàn thờ cha rồi lặng lẽ đứng hồi lâu. Gần 60 năm trôi qua, ông vẫn chưa một lần được nhìn thấy gương mặt cha ngoài bức ảnh truyền thần được gia đình lưu giữ.
"Cha tôi hy sinh khi tôi mới khoảng 10 tháng tuổi. Tôi lớn lên qua những câu chuyện của mẹ, bà nội và người thân trong gia đình. Tôi luôn tự hào về cha, nhưng cũng tiếc nuối vì chưa một lần được gặp mặt", ông Bằng trầm giọng chia sẻ.
Trước khi lên đường nhập ngũ, liệt sĩ Lê Viết Hiển (SN 1938) là giáo viên tiểu học tại địa phương. Khi chiến tranh bước vào giai đoạn ác liệt, thầy Hiển gác lại bục giảng, khoác ba lô ra trận và hy sinh năm 1968 tại chiến trường miền Nam, để lại người vợ trẻ cùng 3 đứa con thơ.
Nhưng sự hy sinh của liệt sĩ Lê Viết Hiển chỉ là một phần trong câu chuyện mất mát kéo dài của gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hoàn.
Ông Lê Thanh Hải (SN 1949), thương binh hạng 1/4, cháu nội Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hoàn, cho biết ông bà nội là cụ Lê Viết Xước và Nguyễn Thị Hoàn sinh được 10 người con, gồm 6 nam, 4 nữ. Trong những năm tháng chiến tranh, 3 người con trai của hai cụ đã lần lượt hy sinh vì Tổ quốc.
Người con trai thứ 3 là liệt sĩ Lê Viết Nhữ (SN 1925), tham gia kháng chiến chống Pháp và hy sinh năm 1952 tại mặt trận Suối Bo (Hòa Bình cũ, nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Nỗi đau mất con chưa kịp nguôi ngoai, cụ Nguyễn Thị Hoàn tiếp tục tiễn những người con khác lên đường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Năm 1966, liệt sĩ Lê Viết Hinh (SN 1940) hy sinh tại chiến trường miền Nam. Hai năm sau, thầy giáo Lê Viết Hiển, khi ấy mới 28 tuổi (anh trai của liệt sĩ Lê Viết Hinh), cũng rời bục giảng để ra trận và mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Hơn 70 năm kể từ ngày liệt sĩ Lê Viết Nhữ hy sinh và hơn nửa thế kỷ kể từ ngày hai người em của ông ngã xuống, gia đình vẫn chưa tìm thấy phần mộ của cả 3 liệt sĩ. Niềm mong mỏi lớn nhất của gia đình và dòng họ là một ngày nào đó có thể đón các anh trở về với quê hương, để hành trình tri ân những người đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc được trọn vẹn.
Cùng thời điểm (năm 1968), mặc dù gia đình đã phải chịu mất mát lớn khi 3 người con của mẹ Nguyễn Thị Hoàn lần lượt hy sinh vì Tổ quốc, ông Lê Thanh Hải (cháu nội của mẹ Nguyễn Thị Hoàn) vẫn tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình, lên đường nhập ngũ khi mới 19 tuổi.
Tháng 2/1968, ông Hải nhập ngũ, thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 306, Sư đoàn 308B, trực tiếp chiến đấu tại mặt trận Đường 9 - Khe Sanh (Quảng Trị), một trong những chiến trường ác liệt nhất thời kỳ đó. Sau này, ông được điều động về Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36, Sư đoàn 325B và tiếp tục tham gia nhiều trận đánh khốc liệt.
Trong ký ức của người lính năm xưa, trận đánh tại Hồ Khê - Đá Bạc (Quảng Trị) ngày 17/4/1969 là dấu mốc không thể nào quên.
Ông Hải nhớ lại, chập tối hôm đó, đơn vị thực hiện trận tập kích vào vị trí của đối phương. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Đơn vị của ông tiêu diệt 38 xe tăng địch nhưng cũng chịu tổn thất nặng nề. Giọng người thương binh chùng xuống: "Sau trận đánh, đại đội chỉ còn 4 người sống sót. Tôi là một trong số đó".
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, vết thương chiến tranh vẫn hành hạ ông mỗi khi trái gió, trở trời. Nhưng điều khiến người thương binh ấy day dứt nhất không phải là những thương tích trên cơ thể, mà là 3 người chú ruột vẫn chưa được trở về.
Hơn nửa thế kỷ chờ ngày các anh về với đất mẹ
Bà Lê Thị Nụ (SN 1939), vợ liệt sĩ Lê Viết Hiển, nay tuổi đã cao, nhưng vẫn đều đặn chăm chút bàn thờ chồng. Với bà, đó không chỉ là nơi tưởng nhớ người chồng đã khuất mà còn là nơi gửi gắm nỗi niềm của người vợ đã dành gần trọn cuộc đời để chờ ngày đoàn tụ.
Ngày liệt sĩ Lê Viết Hiển lên đường nhập ngũ, bà Nụ còn rất trẻ. Chồng ra trận khi con trai mới 10 tháng tuổi. Kể từ đó, bà vừa làm cha, vừa làm mẹ, một mình tần tảo nuôi 3 người con khôn lớn trong sự thiếu vắng bóng dáng người chồng.
Còn ông Bằng, nhiều năm qua, bên cạnh việc chăm sóc mẹ già, ông luôn âm thầm tìm kiếm thông tin về cha, bác và chú qua hồ sơ liệt sĩ, đơn vị chiến đấu cùng nhiều nguồn tư liệu liên quan.
Khi công tác giám định ADN được triển khai phục vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, gia đình đã hoàn tất thủ tục lấy mẫu sinh phẩm để phục vụ đối sánh. Với ông, đó là thêm một cơ hội để hy vọng ngày cha, bác và chú ruột trở về không còn quá xa.
"Chúng tôi biết việc tìm kiếm sau từng ấy năm là không hề dễ dàng, nhưng chỉ cần còn hy vọng thì gia đình vẫn chờ. Nếu tìm được cha, bác và chú, đó là niềm vui không chỉ của riêng tôi mà còn là sự an lòng của mẹ, của người thân và cả dòng tộc", ông Bằng tâm sự.
Cùng chung mong mỏi ấy, ông Lê Thanh Hải vẫn đau đáu về những người thân đã nằm lại nơi chiến trường. Là người từng đi qua những năm tháng ác liệt của chiến tranh, từng chứng kiến đồng đội hy sinh, ông hiểu rằng mỗi cuộc trở về sau chiến tranh đều mang ý nghĩa đặc biệt đối với gia đình và quê hương.
"Tuổi chúng tôi bây giờ đã cao. Điều mong mỏi lớn nhất là khi còn khỏe mạnh, minh mẫn, được nhìn thấy các chú trở về. Đó là tâm nguyện của cả gia đình", ông Hải nói.
Với gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hoàn, hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng sự chờ đợi vẫn chưa khép lại. Họ vẫn mong một ngày được đón những người con của gia đình trở về với quê hương. Bởi đó không chỉ là sự đoàn tụ của một gia đình, mà còn là sự trọn vẹn của nghĩa tình, của đạo lý "uống nước nhớ nguồn" đối với những người đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Thông qua "Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ", thân nhân gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hoàn luôn khát khao tìm được nơi yên nghỉ của các liệt sĩ Lê Viết Nhữ, Lê Viết Hiển và Lê Viết Hinh, để các anh được trở về với quê hương, gia đình và con cháu có nơi thắp nén hương tưởng nhớ mỗi dịp lễ, Tết, ngày giỗ.