Khi còi báo động vang lên
Có điện rồi! Điện đã lại sáng lên rồi! Lưới điện được khôi phục rồi! Chiếc kìm cắt sắc bén luôn trong túi. Chiếc tô-vít cán gỗ được cất giữ cẩn thận bên người. Những chiếc thang tre đa năng lúc thì làm cột, khi lại làm thang, không có nó không dựng được cột. Nhưng khi cột gãy đổ, thang lại được tranh thủ dùng làm cột tạm để khắc phục ngay các sự cố do bom đạn dội vào làm gián đoạn đường dây…
Ký ức về Hà Nội giai đoạn 1965-1975 gắn với công tác đảm bảo cấp điện phục vụ sản xuất và chiến đấu của những người thợ điện Thủ đô được chính các “cựu binh” của Sở quản lý phân phối điện Thủ đô ngày ấy, là bác Nguyễn Ngọc Huấn (1950), nguyên Chủ tịch công đoàn Tổng Công ty Điện lực Hà Nội và bác Dương Văn Mích (1947), nguyên Chủ tịch công đoàn Công ty Điện lực Hai Bà Trưng chia sẻ với chúng tôi giữa những ngày cuối thu Thủ đô đầy nắng…
Ngày ấy, những công nhân ngành điện lực Thủ đô được cấp phù hiệu “phòng không Nhân dân” để thực hiện nhiệm vụ khôi phục dòng điện nhanh nhất, đảm bảo cấp điện liên tục cho các phụ tải quan trọng.
Lúc bấy giờ toàn là các nhà máy dệt may, sản xuất công nghiệp hoá chất, nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế và sẵn sàng chiến đấu. Rồi làm sao để giữ cho các tuyến phố luôn được sáng đèn, để đập tan âm mưu của đế quốc Mỹ “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời đồ kỳ đá”.
Không sợ hãi. Không ngại bất cứ việc gì cả. Ai cũng sẵn sàng xung phong vào những nơi đang cần điện để khắc phục các sự cố, để làm sao cấp điện nhanh nhất. Công việc của mình mà. Tự hào lắm! Không được tham gia là cảm thấy mình chưa hoàn thành nhiệm vụ, không được tổ chức tín nhiệm. Công việc cứ thế, đâu có kể ngày giờ, đêm hôm, sớm tối… Lời thề quyết tử “Tim ngừng đập, máu ngừng chảy nhưng dòng điện không bao giờ tắt” dường như đã ngự trị trong từng hơi thở của những công nhân kỹ thuật thuộc Sở quản lý phân phối điện Thủ đô ngày ấy, và còn thao thức mãi cho đến bây giờ...
Để dòng điện không bao giờ tắt…
Trong dòng chảy của lịch sử, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến dịch “Sấm rền” đánh phá miền Bắc (từ tháng 3/1965 đến cuối tháng 10/1968) nhằm vào các mục tiêu quân sự và kinh tế ở miền Bắc.
Trong đó, từ cuối tháng 4/1966, không quân Mỹ mở đợt đánh phá vào hệ thống các trận địa phòng không ở Văn Điển (Hà Nội), khu vực Đức Giang (Hà Nội)… rồi leo thang đánh phá tất cả các cơ sở công nghiệp của miền Bắc, đánh vào Hà Nội, Hải Phòng với mức độ ác liệt và quy mô lớn nhằm phá huỷ tiềm lực kinh tế, huỷ diệt các cơ sở công nghiệp, đầu mối giao thông, trận địa phòng không và khu vực đông dân, cô lập các thành phố này, cắt đường tri viện từ miền Bắc vào miền Nam.
Dưới bom đạn khốc liệt, hệ thống lưới điện Thủ đô vốn đã đơn sơ, khó khăn, lại bị tàn phá nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất, đòi hỏi phải có phương án khắc phục, cấp điện trở lại sớm nhất.
Khi có tiếng còi báo động, người dân tìm nơi trú ẩn an toàn thì những người “thợ điện” lại là lực lượng trực chiến. Nhận lệnh từ Trung tâm điều độ thông báo nơi xảy ra sự cố - trạm nào, đường dây, lưới điện nào cần khắc phục, “chiếc phù hiệu” cho phép người thợ điện được đi trên đường, đến bất cứ nơi đâu đang xảy ra sự cố để nhanh chóng khắc phục hậu quả bom đạn, nối lại đường dây, trạm điện…
Nhớ lại những đường dây, cột điện bị bom đạn đánh phá với nhiều kiểu đổ, gãy đã từng khắc phục thành công, bác Huấn kể: Hồi đó, hệ thống lưới điện cả cao thế, hạ thế, cả nổi, cả ngầm (đường điện ngầm do Pháp để lại, rất hạn chế) đều bị thiệt hại hết sức nặng nề.
Trong khi đó, cả ngành điện Thủ đô lúc bấy giờ chỉ có khoảng 4-5 chiếc xe “Sắc-ter-ring” của Đức để chở máy biến áp và làm những việc đặc biệt quan trọng. Việc khôi phục lại lưới điện hoàn toàn bằng thủ công, chỉ có sức người, xe đạp thô sơ, xe cải tiến và những chiếc thang tre… Thô sơ thế nhưng các sự cố vẫn được khắc phục rất nhanh chóng.
Bác Mích tiếp lời: lưới điện “hồi xưa” (những năm 1967) đơn sơ lắm, nên khắc phục cũng rất khổ. Mỗi chiếc cột chỉ có khoảng 30 chiếc cầu chì cá treo lủng liểng trên cột. Trong mỗi chiếc cầu chì cá là những dây chì con con.
Mỗi lần bị Mỹ đánh phá, đổ vỡ ngổn ngang. Mà toàn kéo bằng dây đồng trần nên nguy cơ mất an toàn rất cao. Nhưng yêu cầu vẫn phải quản lý, vận hành an toàn. Ngày đó, Phòng điều độ có riêng một đội chuyên đi chữa chì. Tháng Tết mưa dầm gió rét trèo leo chữa chì trên cột rất nguy hiểm!
Để khắc phục lưới điện vừa đảm bảo cấp điện nhanh nhất, lại phải an toàn nữa thì người thợ điện không chỉ có sức khoẻ mà còn phải có đầu óc sáng tạo, có kỹ thuật, kỹ năng để đưa ra được những cách giải quyết phù hợp với tình hình thực tế. Chẳng hạn như việc nối dây, lẽ ra đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn thì phải cần tới 4 “git”, nhưng để tiết kiệm mà vẫn dùng được thì chỉ sử dụng 2 “git”, còn 2 đầu thì tết lại.
Về mỹ thuật thì không đẹp, nhưng về truyền tải điện thì vẫn đảm bảo yêu cầu, vừa cấp điện trở lại ngay, lại giảm được nguồn vật tư đang thiếu thốn cũng như chi phí vật tư cho ngành. Nhất là hậu quả sau mỗi trận ném bom, sứ cách điện gần như vỡ hết, do lâu ngày nên đã hoen rỉ hết, phải khắc phục bằng cách sử dụng bu-li cỡ to vẫn đảm bảo an toàn…
Đối với lưới điện 35kV - là cấp điện áp cao nhất lúc bấy giờ, để đảm bảo quy chuẩn, dòng điện 35kV có loại sứ VHĐ45 của Bugari nặng tới hơn 30kg, nếu không đủ sức khoẻ thì không thể vừa đeo sứ trên lưng, vừa trèo lên cột để sữa chữa. Nhất là với những người tâm lý không vững thì khó có thể làm công tác sửa chữa, thay sứ trên lưới điện cao thế được.
Với chiếc xà chữ nhất, hệ thống dây đi trên cột li tâm cao 10 mét rưỡi, từ đỉnh cột ra đến ngoài tới mét tư, người yếu bóng vía đứng trên cao chênh vênh nhìn đã thấy sợ. Chưa kể trèo lên được đến đỉnh cột rồi còn phải làm rất nhiều việc nữa. Nào là tháo dây hạ xuống dưới xà, tháo sứ vỡ ra, lấy sứ mới mang lên thay vào...
Hai đầu dây nặng tải vít xuống. Nếu chỉ dùng sức người không thôi thì khó có thể làm được. Phải có sức khoẻ rồi, còn phải “dùng mưu”, phải bằng đầu óc nữa thì mới giải quyết được.
Những người thợ điện Thủ đô kể rằng, công việc của họ suy cho cùng cần nhất vẫn là tình yêu, trách nhiệm và sự chỉn chu. Những vật dụng dùng để sửa chữa điện như kìm cắt, búa, tô vít… được họ cất giữ cẩn thận như “người yêu”.
Nhưng yêu và say hơn cả vẫn là được “lao” vào việc đến quên cả mệt mỗi khi ở đâu đó có sự cố cần phải cấp điện trở lại ngay. Hiểu là trong thời buổi chiến tranh, phải có sức khoẻ, sức bền mới có thể đáp ứng yêu cầu công việc thậm chí phải leo trèo lên các cột cao để xử lý sự cố nên mỗi ngày đêm người công nhân phải tranh thủ ngủ được vài giờ. Ấy thế nhưng hôm nào có sự cố mà không được gọi tên là lòng cứ canh cánh câu hỏi và tủi thân lắm.
Vì thế, bất kể là ngày hay đêm, dù ở đâu, dù khó khăn đến mấy, dù bom đạn chiến tranh tàn khốc, chỉ cần được tin tưởng giao nhiệm vụ là những người thợ điện Thủ đô lại vui vẻ lên đường đi sửa chữa, khôi phục cấp điện, để ánh điện sáng lên, dòng điện không bao giờ tắt…