Tháo ‘nút thắt’ cản trở đại học đào tạo nhân lực công nghệ lõi

GD&TĐ - Giáo dục đại học giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ lõi của quốc gia.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU.
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU.

Trao đổi về chủ đề này, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) có những chia sẻ trên Báo Giáo dục và Thời đại.

Đầu tư cho giáo dục đại học

* Giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò của giáo dục đại học trong đào tạo nhân lực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi?

- Tôi cho rằng, muốn có công nghệ lõi, trước hết có con người, có nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Muốn có các sản phẩm công nghệ chiến lược, trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia, nhà quản trị công nghệ và doanh nhân công nghệ được đào tạo bài bản, có năng lực nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ tri thức mới.

Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định rõ vai trò của giáo dục: giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ là cạnh tranh về tài nguyên, lao động giá rẻ hay thị trường, mà ngày càng là cạnh tranh về trí tuệ, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.

Các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, hàng không vũ trụ, robot, công nghệ số, đường sắt tốc độ cao, năng lượng nguyên tử… đều đòi hỏi nguồn nhân lực trình độ cao, có khả năng làm chủ khoa học nền tảng và chuyển hóa tri thức thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ có giá trị.

Đại học không chỉ là nơi truyền thụ kiến thức. Đại học hiện đại phải là nơi tạo ra tri thức mới, đào tạo nhân tài, ươm tạo công nghệ, hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu và đóng góp trực tiếp vào năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đặc biệt, các đại học nghiên cứu phải trở thành những trung tâm Nghiên cứu và phát triển (R&D) mạnh, nơi kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu, doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của đất nước.

Tôi vẫn luôn nhấn mạnh rằng: Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW không thể thành công nếu giáo dục đại học Việt Nam không đổi mới và cất cánh. Nếu không có đại học mạnh thì rất khó có nền khoa học công nghệ mạnh; nếu không có đại học nghiên cứu đạt trình độ quốc tế thì rất khó có công nghệ lõi “made by Vietnam”.

Vì vậy, đầu tư cho giáo dục đại học, nhất là các đại học nghiên cứu – đổi mới sáng tạo, chính là đầu tư cho tương lai phát triển tự chủ, bền vững và hùng cường của đất nước.

hatnhan.jpg
Giáo dục đại học giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ảnh minh họa/internet.

6 nút thắt cần tháo gỡ

* Theo Giáo sư, những nút thắt cần tháo gỡ để giáo dục đại học phát huy hiệu quả nhất vai trò, sứ mệnh đào tạo nhân lực công nghệ lõi?

- Theo tôi, có một số nút thắt lớn cần được tháo gỡ. Thứ nhất là nút thắt về thể chế, về cơ chế tự chủ đại học. Chúng ta đã nói nhiều về tự chủ, nhưng trên thực tế, nhiều trường vẫn chưa được tự chủ thực chất về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính, học thuật và hợp tác quốc tế.

Đại học muốn phát triển nhanh thì phải được trao quyền quyết định nhanh, chịu trách nhiệm rõ ràng và được đánh giá bằng kết quả đầu ra. Nếu cơ chế còn nặng tính hành chính, xin - cho, tiền kiểm quá nhiều, thì rất khó tạo ra môi trường sáng tạo đúng nghĩa.

Thứ hai, là nút thắt về đầu tư, nhất là đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D). Các nghiên cứu chứng tỏ rằng nếu đầu tư cho R&D dưới 2% GDP thì quốc gia chưa thể sáng tạo công nghệ.

Nói về nhân lực và công nghiệp khá nhiều nhưng hầu như ít ai nói về R&D, mặc dù Nghị quyết số 57-NQ/TW có nói về phấn đấu năm 2030 đầu tư cho R&D đạt 2% GDP, trong đó đầu tư từ ngân sách khoảng 40% (tức là 0.8% GDP), đầu tư doanh nghiệp là 60% (tức là 1.2% GDP).

Trong chế độ báo cáo tài chính hiện tại chúng ta chưa có thống kê cho R&D. Theo ước lượng, có lẽ chưa tới 15% ngân sách khoa học công nghệ (KHCN) được bố trí cho R&D, tức là khoảng 0.13% GDP.

Ở doanh nghiệp, mức chi cho KHCN đã thấp, tỷ lệ chi cho R&D còn thấp nữa. Trung Quốc chi quốc gia cho R&D đã đạt mức 2.8% và theo chuẩn OECD. Mức chi trung bình của thế giới cho R&D hiện nay ở mức 2% GDP.

Các nước đầu tư cho R&D "khủng" là Hàn Quốc (4.94%), Israel (6.35%). Chi quốc gia của Mỹ cho R&D ở mức 3.45% GDP, nhưng do quy mô kinh tế lớn, nên tổng số chiếm 40-45% tổng chi cho toàn cầu. Như vậy, chúng ta còn khoảng cách khá xa về năng lực R&D so với thế giới.

Thứ ba, là thiếu các phòng thí nghiệm tiên tiến, hiện đại. Muốn đào tạo kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI, nhà khoa học vật liệu, chuyên gia hàng không vũ trụ hay robot, thì cần phòng thí nghiệm rất hiện đại, hạ tầng tính toán mạnh, thiết bị nghiên cứu tiên tiến, cơ sở dữ liệu lớn và môi trường thực hành sát với công nghiệp. Đầu tư cho đại học, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu và phòng thí nghiệm, hiện vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển.

Thứ tư là nút thắt về chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Nhân lực chất lượng cao không thể được hình thành nếu thiếu những người thầy giỏi, những nhà khoa học đầu ngành và các nhóm nghiên cứu mạnh. Cần có cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế, cũng như giữ chân các tài năng trẻ trong nước.

Với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong trường đại học, cần được đánh giá theo chuẩn mực khoa học, hiệu quả nghiên cứu, năng lực đào tạo và đóng góp cho phát triển công nghệ, chứ không nên chỉ bằng các tiêu chí hành chính.

Thứ năm là nút thắt trong liên kết giữa đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp - Nhà nước. Nhiều kết quả nghiên cứu vẫn dừng lại ở bài báo, đề tài nghiệm thu, trong khi doanh nghiệp lại thiếu công nghệ và nhân lực chất lượng cao.

Cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu rõ ràng, cơ chế đồng tài trợ, phòng thí nghiệm liên kết, trung tâm xuất sắc và các chương trình đào tạo theo nhu cầu công nghệ chiến lược của quốc gia.

Cuối cùng là nút thắt về tư duy. Chúng ta phải coi giáo dục đại học không chỉ là lĩnh vực chi ngân sách, mà là một khoản đầu tư phát triển. Đầu tư cho đại học hôm nay là tạo ra năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của đất nước trong 10, 20, 30 năm tới.

gsnguyendinhduc.jpg
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.

7 nhóm giải pháp

* Nhằm phát huy hiệu quả nhất vai trò của giáo dục đại học, Giáo sư có đề xuất giải pháp gì nhằm thực hiện quyết liệt hơn nữa trong tự chủ đại học, đầu tư cho giáo dục đại học để tháo gỡ những nút thắt?

Tôi cho rằng, cần triển khai đồng bộ một số nhóm giải pháp. Một là, cần định hướng rõ mô hình của sự phát triển giáo dục đại học. Các nghiên cứu về khoa học giáo dục cho thấy mô hình đại học đã chuyển từ đại học nghiên cứu sang mô hình đại học nghiên cứu – đổi mới sáng tạo, với 3 giá trị cốt lõi: Nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Do đó, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải là 3 từ khóa then chốt trong Chiến lược phát triển của các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Hai là phải thực hiện tự chủ đại học một cách thực chất, đầy đủ, toàn diện và nhất quán. Tự chủ không chỉ là tự chủ tài chính, càng không nên hiểu tự chủ là Nhà nước giảm đầu tư cho đại học.

Tự chủ đúng nghĩa là các trường được quyền chủ động về chiến lược phát triển, tổ chức bộ máy, tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài, tự chủ về học thuật, mở ngành đào tạo mới, hợp tác quốc tế, triển khai nghiên cứu và huy động nguồn lực xã hội. Đi cùng với tự chủ là trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và đánh giá bằng kết quả cụ thể.

Thứ ba, Nhà nước cần có chương trình đầu tư chiến lược cho các đại học nghiên cứu, các trường đại học trọng điểm và các nhóm nghiên cứu mạnh trong những lĩnh vực công nghệ lõi. Không thể đầu tư dàn trải, manh mún. Cần lựa chọn một số đại học có năng lực, có đội ngũ, có truyền thống nghiên cứu và có khả năng hội nhập quốc tế để đầu tư đến ngưỡng.

Đầu tư phải đủ lớn, đủ dài hạn và có mục tiêu rõ ràng, đặc biệt phải tăng mạnh đầu tư cho R&D trong các trường đại học, hình thành phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh, chương trình tiến sĩ chất lượng cao và phát triển các sản phẩm công nghệ có khả năng ứng dụng.

Thứ tư, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính cho giáo dục đại học. Ngân sách nhà nước nên đóng vai trò vốn mồi, tạo nền tảng cho các trường phát triển; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp, địa phương, quỹ đầu tư và các tổ chức xã hội cùng tham gia đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo.

Cần có cơ chế đặt hàng dài hạn từ Nhà nước và doanh nghiệp đối với các đại học trong những nhiệm vụ lớn như: AI, bán dẫn, vật liệu mới, năng lượng mới, hạ tầng thông minh, giao thông hiện đại, quốc phòng - an ninh công nghệ cao.

Thứ năm, phải có chính sách đột phá về nhân tài trong đại học. Cần trao quyền cho các trường được tuyển dụng, trả lương và đãi ngộ theo năng lực, theo sản phẩm khoa học và theo đóng góp thực tế.

Các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia quốc tế, người Việt Nam tài năng ở nước ngoài và các nhà khoa học trẻ xuất sắc cần có cơ chế đặc biệt để trở về, làm việc, dẫn dắt nhóm nghiên cứu và đào tạo thế hệ kế cận.

Thứ sáu, cần triển khai mạnh mẽ và hiệu quả mô hình 4 nhà: Nhà nước, Doanh nghiệp, Nhà trường và nhà khoa học. Nghị quyết 57 khẳng định nhà khoa học có vai trò then chốt. Nghị quyết 68 cũng nhấn mạnh vai trò kinh tế tư nhân. Chỉ khi lợi ích của 4 nhà được xem xét và hài hòa, mới có động lực cho đổi mới sáng tạo.

Thứ bảy, cần gắn đào tạo với nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh phải được tham gia vào các phòng thí nghiệm, dự án nghiên cứu, bài toán thực tiễn của doanh nghiệp và chương trình công nghệ chiến lược quốc gia. Đào tạo nhân lực công nghệ lõi không thể chỉ bằng lý thuyết, mà phải thông qua nghiên cứu, thực hành, thiết kế, thử nghiệm, thất bại và sáng tạo.

Tôi cho rằng, tinh thần quan trọng nhất là phải chuyển từ quản lý đại học theo tư duy hành chính sang kiến tạo phát triển. Nhà nước tạo hành lang, đặt mục tiêu, đầu tư chiến lược và kiểm soát chất lượng; Các doanh nghiệp đặt hàng và đầu tư, đồng hành.

Các đại học phải được trao quyền đủ mạnh để sáng tạo, cạnh tranh, hội nhập và phụng sự đất nước. Khi đại học được cởi trói, được đầu tư đúng mức và được vận hành theo chuẩn mực hiện đại, giáo dục đại học Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong đào tạo nhân lực công nghệ lõi và đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ Việt Nam.

Xin cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Đình Đức!

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ