Đồng hành cùng từng học sinh
Trẻ khuyết tật vốn chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình phát triển. Bởi vậy, để các em có thể sống an toàn, phát triển khả năng và từng bước hòa nhập cộng đồng, bên cạnh sự chăm sóc của gia đình cần có môi trường giáo dục phù hợp, sự kiên trì, thấu hiểu và đồng hành lâu dài.
Tại Trường Giáo dục chuyên biệt Hưng Yên, hành trình ấy được bắt đầu từ việc đánh giá từng học sinh, xây dựng chương trình giáo dục phù hợp với dạng tật, khả năng nhận thức, đồng thời chú trọng rèn kỹ năng tự phục vụ, giao tiếp và hướng nghiệp, dạy nghề.
Trao đổi với Báo Giáo dục và Thời đại, cô Phạm Thị Hương Lan, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, năm học 2026–2027, trường tiếp nhận, quản lý 380 học sinh khuyết tật, trong đó, có gần 60% học sinh thuộc diện khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, với nhiều dạng tật như khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ, hội chứng down, tự kỷ và các dạng tật khác.
Nhà trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Bên cạnh chương trình văn hóa, học sinh được hướng dẫn, rèn luyện các kỹ năng đặc thù và kỹ năng nghề nghiệp, qua đó hỗ trợ phục hồi chức năng, tăng tính độc lập, khả năng giao tiếp, tự phục vụ và hòa nhập xã hội.
Ngay khi tiếp nhận học sinh, nhà trường tổ chức đánh giá tình trạng khuyết tật, khả năng nhận thức và nhu cầu của từng em. Kết quả đánh giá là cơ sở để bố trí lớp học và xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp.
Đối với học sinh tự kỷ, các hoạt động chăm sóc, quản lý, giáo dục và can thiệp được thực hiện theo hướng cá nhân hóa. Giáo viên phối hợp triển khai các chương trình can thiệp hành vi, trị liệu ngôn ngữ, rèn kỹ năng xã hội và các hoạt động giáo dục chuyên môn.
Môi trường học tập được xây dựng thân thiện, an toàn và có tính cấu trúc cao, giúp học sinh phát triển khả năng giao tiếp, thích nghi và hòa nhập. Nhà trường cũng phối hợp với phụ huynh nhằm duy trì tính liên tục trong quá trình can thiệp và giáo dục trẻ.
Ngoài giờ học văn hóa, 100% trẻ có nhu cầu đặc biệt tại trường được can thiệp chức năng chuyên sâu như âm ngữ trị liệu, vận động, vật lý trị liệu, can thiệp cá nhân và can thiệp nhóm.
Các hoạt động này được duy trì thường xuyên, học sinh được sàng lọc, phân loại và đánh giá định kỳ để lựa chọn hình thức can thiệp phù hợp với nhận thức và dạng tật. Đáng chú ý, nhiều giáo viên của trường còn tình nguyện dạy thêm các buổi trong tuần để thực hiện hoạt động can thiệp sớm cho học sinh.
“Điều dễ nhận thấy là sự tận tâm, kiên trì và tình yêu thương của các thầy cô dành cho học sinh”, cô Lan chia sẻ.
Theo cô Phạm Thị Hương Lan, thực tế nhiều năm cho thấy, học sinh có sự tiến bộ rõ rệt về nhận thức, tình cảm, kỹ năng tự phục vụ và giao tiếp sau thời gian học tập tại trường, đặc biệt với những trẻ được tiếp nhận đúng độ tuổi.
Dạy nghề, mở thêm cơ hội tự lập cho học sinh
Không chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh tiến bộ về nhận thức và kỹ năng, nhà trường còn xác định hướng nghiệp, dạy nghề là một trong những giải pháp quan trọng để chuẩn bị hành trang cho các em trước tuổi trưởng thành.
Kinh nghiệm của nhà trường cho thấy, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với học sinh khuyết tật, giúp các em có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập, tự tin hòa nhập cộng đồng và khẳng định giá trị bản thân.
Đối với học sinh từ 13 tuổi trở lên có khả năng học nghề, ngoài buổi học văn hóa, các em được bố trí một buổi học nghề. Việc lựa chọn nghề được căn cứ vào năng lực, sở thích, tính cách và dạng tật của từng học sinh, đồng thời tính đến nhu cầu sử dụng lao động tại địa phương.
“Phương pháp dạy nghề chủ yếu là thực hành, “cầm tay chỉ việc”. Giáo viên chia nhỏ quy trình thành những bước ngắn, đơn giản để học sinh dễ tiếp thu, hạn chế áp lực trong quá trình học, bà Lan cho biết.
Nhà trường chủ động biên soạn tài liệu, xây dựng kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và phương pháp dạy nghề phù hợp với độ tuổi, dạng tật, khả năng và nhu cầu của từng em. Qua thực tiễn giảng dạy hằng năm, nội dung và phương pháp tiếp tục được đánh giá, điều chỉnh, bổ sung.
Trong điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí dành cho dạy nghề còn hạn chế, nhà trường tập trung vào một số nghề phù hợp như may, thêu, đan móc len, cơ khí. Năm học này, 204 học sinh được tham gia học nghề, trong đó 119 em học nghề may.
Để tăng cơ hội việc làm cho học sinh, trường cũng chủ động phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trong dạy nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm. Đây được xem là cầu nối quan trọng giúp học sinh chuyển từ môi trường học tập sang môi trường lao động thực tế.
Theo thống kê của nhà trường, khoảng 1/3 số học sinh được học nghề may và khoảng 60% trong số này có việc làm sau khi tốt nghiệp, với thu nhập khoảng 6–10 triệu đồng/tháng.
Câu chuyện của hai chị em ruột bị khiếm thính Nguyễn Ngọc L. và Nguyễn Ngọc L.C ở xã Nguyễn Trãi là một ví dụ. Hai em được tuyển sinh vào trường từ khi 6 tuổi. Trong 12 năm gắn bó với mái trường, bên cạnh việc học văn hóa và các kỹ năng cần thiết, hai em đặc biệt được rèn luyện nghề may. Sau khi tốt nghiệp, cả hai được một doanh nghiệp gần nhà tiếp nhận vào làm việc, với mức thu nhập ổn định khoảng 8–11 triệu đồng/tháng.
“Mục tiêu của nhà trường không chỉ là giúp học sinh có thêm kiến thức mà quan trọng hơn là hình thành cho các em khả năng tự phục vụ, giao tiếp, lao động và chủ động hơn trong cuộc sống. Có em thay đổi cả số phận khi ra trường có nghề trong tay, có việc làm và thu nhập ổn định”, cô Lan chia sẻ.