Thực tế này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Xây dựng hệ thống linh hoạt
Theo số liệu của Cục Thống kê, lực lượng lao động Việt Nam hiện có hơn 53 triệu người, song chỉ khoảng 1/3 đã qua đào tạo và có bằng cấp, chứng chỉ. Trong khi đó, mỗi năm có khoảng 150 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, với nhu cầu tuyển dụng lao động có tay nghề ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các quốc gia có dân số già hóa.
Do đó, việc tăng cường hệ thống đào tạo và chứng nhận kỹ năng tiếp tục là ưu tiên hàng đầu. Để đạt mục tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% vào năm 2030, đồng thời chuyển dịch sang mô hình di cư lao động tay nghề cao, Việt Nam cần xây dựng hệ thống giáo dục, đào tạo linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giáo dục và đào tạo cần đóng vai trò dẫn dắt trong việc chuẩn bị lực lượng lao động có kỹ năng, đặc biệt ở các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, các ngành liên quan đến phát triển bền vững và chăm sóc sức khỏe. Đây đều là những lĩnh vực đang định hình lại cấu trúc thị trường lao động toàn cầu, đòi hỏi chính sách vĩ mô phải có sự điều chỉnh kịp thời và mang tính chiến lược.
Bà Kendra Rinas - Trưởng Phái đoàn Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) tại Việt Nam, cho rằng không chỉ dừng ở đào tạo, kỹ năng còn cần được công nhận giữa các quốc gia. Nếu thiếu cơ chế công nhận bằng cấp và kỹ năng lẫn nhau, lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài có nguy cơ không phát huy được năng lực đã được đào tạo, từ đó hạn chế khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm bền vững.
Chia sẻ thêm, bà Cazuc Ciara, Điều phối viên khu vực của IOM, nhấn mạnh vai trò của các mô hình hợp tác như đối tác dịch chuyển, chuyển giao kỹ năng từ cộng đồng kiều bào và công nhận kỹ năng xuyên biên giới. Đây là những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tối ưu hóa lợi ích của di cư lao động. Tuy nhiên, việc thiếu cơ chế công nhận và chuyển đổi kỹ năng giữa các quốc gia vẫn là rào cản lớn, hạn chế khả năng tiếp cận các vị trí việc làm đòi hỏi kỹ năng cao cũng như các kênh di cư hợp pháp của lao động Việt Nam.
Tạo thế kiềng 3 chân
GS.TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh cần tăng cường tính liên thông giữa các loại hình đào tạo, xây dựng hệ thống giáo dục mở, tạo điều kiện để người học phát triển kỹ năng linh hoạt, liên tục.
Các chương trình đào tạo cần gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động, đặc biệt trong những lĩnh vực đang chuyển đổi nhanh như AI, công nghiệp bán dẫn và các ngành liên quan đến phát triển bền vững. Theo ông, thúc đẩy hợp tác công - tư với sự tham gia của doanh nghiệp là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo.
Cho rằng doanh nghiệp không chỉ là đơn vị tuyển dụng mà đã trở thành đối tác đồng hành trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội Đoàn TP Hà Nội, nhận định doanh nghiệp hiện tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chương trình đào tạo nhằm bảo đảm tính thực tiễn và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đồng thời, doanh nghiệp còn đóng vai trò phản biện, giúp các cơ sở đào tạo đánh giá lại chất lượng giảng dạy, nghiên cứu để tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng đầu ra. Đây cũng là cầu nối quan trọng đưa các kết quả nghiên cứu khoa học nhanh chóng đi vào thực tiễn sản xuất.
Đề cập mô hình liên kết “3 nhà” gồm Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng, để giải quyết những “bài toán lớn” của quốc gia cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên, vượt ra ngoài phạm vi các nghiên cứu nhỏ lẻ. Theo đó, doanh nghiệp cần mạnh dạn đặt hàng những nghiên cứu cụ thể để các sản phẩm khoa học có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn.
Cùng với đó, cần tăng cường trao đổi chuyên gia giữa doanh nghiệp và nhà trường; tập trung đào tạo nguồn nhân lực làm chủ công nghệ cao, công nghệ lõi - lĩnh vực đang được xem là “điểm nghẽn” của nhiều ngành sản xuất, kinh doanh.
Ông Nguyễn Văn Sỹ - Trưởng phòng Phát triển bền vững, Công ty CP Tập đoàn PAN, cho rằng việc Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp liên kết theo mô hình “3 nhà” sẽ tạo ra nhiều lợi thế. Theo ông, khi nhà trường hợp tác với doanh nghiệp sẽ tạo thêm môi trường để sinh viên làm quen với công việc, trang bị kỹ năng mềm, từ đó dễ dàng thích ứng với yêu cầu nghề nghiệp sau khi ra trường. Sự gắn kết này cũng giúp công tác đào tạo nâng cao chất lượng, đáp ứng sát hơn nhu cầu của nhà tuyển dụng.
Theo ông Nguyễn Quốc Trị - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, liên kết “3 nhà” hiện nay không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu của phát triển. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng thể chế, chính sách và tạo môi trường thuận lợi; các trường đại học, viện nghiên cứu là nơi tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và nguồn nhân lực mới; còn doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo, nơi ứng dụng công nghệ, thương mại hóa sản phẩm khoa học và mở rộng thị trường.
Từ thực tiễn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận thấy ở đâu có sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, ở đó sẽ xuất hiện những mô hình phát triển hiệu quả, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và chuỗi sản xuất có sức cạnh tranh tốt hơn.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, đây là giai đoạn quan trọng để hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hướng tới lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng tốt.