Ngày 11/8/2026, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 65/2026/TT-BGD&ĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 65).
Thông tư 65 thay thế Thông tư số 13/2021/TT-BGD&ĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam; Thông tư số 07/2024/TT-BGD&ĐT sửa đổi, bổ sung Điều 7 và thay thế Phụ lục II, Phụ lục III của Thông tư số 13/2021/TT-BGD&ĐT và Thông tư số 34/2017/TT-BLĐTBXH quy định về việc công nhận đối với văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài cấp.
Thông tư 65 có 10 điều, được xây dựng theo hướng kế thừa những quy định còn phù hợp của Thông tư 13/2021/TT-BGD&ĐT, Thông tư 07/2024/TT-BGD&ĐT và Thông tư 34/2017/TT-BLĐTBXH; đồng thời bổ sung quy định mới theo hướng đổi mới phương thức quản lý, quy định rõ điều kiện công nhận văn bằng, tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền công nhận văn bằng, đẩy mạnh chuyển đổi số, sử dụng dữ liệu liên thông, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến toàn trình cung cấp cho người đề nghị công nhận văn bằng.
Quy định rõ điều kiện chung và điều kiện cụ thể để công nhận văn bằng
Điểm mới đầu tiên của Thông tư 65 là quy định rõ điều kiện chung và điều kiện cụ thể để công nhận văn bằng tương ứng với từng phương thức đào tạo, đáp ứng mô hình giáo dục xuyên biên giới đang ngày càng phát triển.
Cụ thể, Thông tư quy định điều kiện chung và điều kiện cụ thể để công nhận văn bằng tương ứng với mỗi phương thức đào tạo: học trực tiếp tại nước ngoài - du học; liên kết đào tạo tại nước ngoài; liên kết đào tạo tại Việt Nam; học từ xa (trực tuyến, trực tuyến kết hợp trực tiếp hoặc được thực hiện kết hợp giữa phương thức đào tạo từ xa qua mạng máy tính và viễn thông, thư tín, phát thanh - truyền hình...).
Các quy định này tường minh hơn, giúp cơ quan có thẩm quyền công nhận văn bằng và người có văn bằng dễ dàng xác định được quy định của pháp luật được áp dụng với phương thức đào tạo theo loại văn bằng đề nghị công nhận.
Đối với văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam cấp, hoạt động đào tạo phải được triển khai hợp pháp tại Việt Nam, đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm thực hiện chương trình, đồng thời đáp ứng các điều kiện chung về công nhận văn bằng.
Đối với trường hợp hoạt động đào tạo hoặc phân hiệu được thực hiện tại một nước khác với nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính, Thông tư quy định các căn cứ liên quan đến việc cơ sở đào tạo được công nhận, kiểm định, được phép hoạt động hoặc cấp bằng; hoặc chương trình được cơ quan có thẩm quyền cho phép thực hiện hay được kiểm định.
Đối với đào tạo từ xa, Thông tư kế thừa nguyên tắc quản lý đã có nhưng mô tả đầy đủ hơn các phương thức, bao gồm trực tuyến, trực tuyến kết hợp trực tiếp và các hình thức đào tạo từ xa khác. Khi người học lưu trú và học tập tại nước nào thì chương trình giáo dục phải được cấp có thẩm quyền về giáo dục của nước đó cho phép thực hiện.
Việc quy định cụ thể theo từng tình huống góp phần tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc xem xét các mô hình giáo dục xuyên biên giới đang ngày càng phát triển.
Cụ thể hóa yêu cầu bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo ở nước ngoài
Điểm mới thứ hai là Thông tư quy định rõ điều kiện công nhận văn bằng đối với văn bằng tiến sĩ theo các hình thức đào tạo đặc thù, bảo đảm quy định chặt chẽ, đáp ứng chuẩn đầu ra tối thiểu so với quy định của Việt Nam và hạn chế hiện tượng một số cá nhân người Việt Nam theo học cơ sở đào tạo tại nước ngoài không bảo đảm chất lượng.
Cụ thể, Thông tư quy định thời gian nghiên cứu trực tiếp tại cơ sở đào tạo tối thiểu 12 tháng trong toàn khóa học đối với bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo phương thức đào tạo trực tiếp tại cơ sở giáo dục nước ngoài và thực hiện nghiên cứu thực địa tại nước khác (khoản 7 Điều 3);
Quy định người học có bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo hình thức thừa nhận kết quả nghiên cứu, công trình khoa học cũng phải có người hướng dẫn khoa học, hoàn thành đầy đủ các yêu cầu học thuật của chương trình đào tạo tiến sĩ và thực hiện bảo vệ luận án trước hội đồng học thuật theo quy định của cơ sở đào tạo đồng thời phải có kết quả học tập, nghiên cứu đáp ứng chuẩn đầu ra của chuẩn chương trình đào tạo tiến sĩ thuộc ngành, lĩnh vực tương ứng của Việt Nam (khoản 8 Điều 3).
Các nội dung sửa đổi, bổ sung nêu trên vừa khuyến khích việc học tập suốt đời, tạo điều kiện để người Việt Nam theo học, tiếp thu kiến thức từ các cơ sở giáo dục chất lượng cao ở các quốc gia có nền giáo dục phát triển, đồng thời cũng tăng cường kiểm soát chất lượng nguồn nhân lực đi đào tạo tại nước ngoài, hạn chế việc nghiên cứu sinh Việt Nam du học tại các cơ sở giáo dục không bảo đảm chất lượng.
Đẩy mạnh công nhận, xác thực văn bằng trên môi trường số, đơn giản hóa thủ tục hành chính
Thông tư đồng thời đẩy mạnh công nhận và xác thực văn bằng trên môi trường số, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý đối với hồ sơ phải xác minh, minh bạch trình tự thủ tục công nhận văn bằng và thông tin về kết quả công nhận văn bằng.
Thông tư quy định công nhận văn bằng là dịch vụ công, thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến, người dân chỉ phải nhập dữ liệu một lần. Thủ tục công nhận văn bằng được thực hiện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Người đề nghị có thể tải hồ sơ trực tuyến; những thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia thì không phải nộp lại bản giấy hoặc bản chứng thực điện tử.
Nội dung tại Điều 5 của Thông tư đã quy định cụ thể về hồ sơ đối với từng loại văn bằng để phù hợp với điều kiện công nhận văn bằng tương ứng tại Điều 3.
Đối với trường hợp cần xác minh thông tin từ cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc cần làm rõ thông tin liên quan đến văn bằng, thời hạn tối đa được rút từ 45 ngày làm việc theo quy định trước đây xuống còn 30 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.
Như vậy, đối với những hồ sơ phức tạp cần xác minh, thời gian giải quyết tối đa được rút ngắn 15 ngày làm việc, góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công và giảm thời gian chờ đợi cho người dân.
Thông tư đồng thời quy định rõ việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục công nhận văn bằng không phụ thuộc vào địa giới hành chính, phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trong môi trường số.
Đối với văn bằng, bảng điểm điện tử hoặc có thông tin xác thực trực tiếp từ cơ sở cấp bằng, hồ sơ tiếp tục được đơn giản hóa (điểm a, điểm b khoản 3 Điều 5). Trường hợp văn bằng có ngôn ngữ bằng tiếng Anh thì không cần dịch sang tiếng Việt mà chỉ cần tải lên Cổng Dịch vụ công quốc gia bản quét (scan) các thành phần hồ sơ đã có.
Bên cạnh đó, Thông tư quy định rõ việc số hóa không chỉ hồ sơ mà cả kết quả công nhận và phương thức xác minh. Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng. Thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên VNeID có giá trị xác minh thay cho việc cơ quan có thẩm quyền công nhận văn bằng xác minh bằng văn bản. Cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng được kết nối với VNeID theo lộ trình.
Như vậy, chuyển đổi số trong công nhận văn bằng không chỉ dừng ở khâu tiếp nhận hồ sơ mà được thực hiện xuyên suốt từ tiếp nhận thông tin, khai thác dữ liệu, xử lý hồ sơ đến trả kết quả và xác minh kết quả công nhận. Điều này vừa tạo thuận lợi cho người có văn bằng, vừa hỗ trợ cơ quan, cơ sở giáo dục và đơn vị sử dụng lao động kiểm tra thông tin thuận tiện hơn.