Giáo dục trong 'đường băng' tăng trưởng hai con số

Giáo dục phổ thông: Nền móng của năng suất lao động quốc gia

GD&TĐ - Giáo dục phổ thông không chỉ là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục, mà còn là nơi hình thành năng lực cốt lõi của người lao động tương lai.

Học sinh Trường THPT Nguyễn Văn Thoại với dự án STEM - hoạt động giáo dục có sự kết nối giữa phổ thông và đại học. Ảnh: NTCC
Học sinh Trường THPT Nguyễn Văn Thoại với dự án STEM - hoạt động giáo dục có sự kết nối giữa phổ thông và đại học. Ảnh: NTCC

Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần bắt đầu từ việc xây chắc nền móng này.

Nâng chất lượng đầu vào

Theo PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, khi nói đến năng suất lao động quốc gia, nhiều người thường tập trung vào yếu tố công nghệ, vốn đầu tư hay đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, yếu tố quyết định nhất vẫn là chất lượng con người. Và chất lượng con người không bắt đầu từ đại học hay đào tạo nghề mà được hình thành từ giáo dục phổ thông.

Theo ông Minh, một nền giáo dục phổ thông tốt không chỉ trang bị kiến thức, mà còn hình thành các năng lực cốt lõi của người lao động tương lai như tư duy, khả năng giải quyết vấn đề, tinh thần hợp tác, ý thức kỷ luật, trách nhiệm và năng lực học tập suốt đời.

“Nếu giáo dục phổ thông là nền móng thì giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp là phần thân của ngôi nhà nguồn nhân lực. Không thể có nguồn nhân lực chất lượng cao nếu nền móng không vững chắc”, ông Minh nhấn mạnh.

Ông Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng, cho biết chất lượng đầu vào của sinh viên phản ánh khá rõ chất lượng giáo dục phổ thông.

Các phương thức tuyển sinh hiện nay, từ kết quả thi tốt nghiệp THPT, học bạ đến đánh giá năng lực, đều dựa trên những năng lực được hình thành trong quá trình học phổ thông như tư duy logic, khả năng tự học, đọc hiểu, giao tiếp và giải quyết vấn đề.

Khi học sinh được chuẩn bị tốt những năng lực này, các trường đại học sẽ giảm áp lực “dạy lại từ đầu”, đồng thời có điều kiện tập trung vào đào tạo chuyên sâu, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Thực tế tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng cho thấy những sinh viên có nền tảng phổ thông tốt thường thích nghi nhanh với mô hình học theo dự án, nghiên cứu khoa học, chế tạo sản phẩm kỹ thuật, tham gia các hoạt động STEM, Robotics và khởi nghiệp.

“Năng suất học tập và năng lực nghề nghiệp ở bậc đại học không xuất hiện đột ngột mà được tích lũy từ giáo dục phổ thông. Một đầu vào chất lượng từ phổ thông chính là tiền đề trực tiếp để tạo ra nguồn nhân lực công nghệ cao”, ông Vũ nhận định.

Ông Thạch Cảnh Bê - Hiệu trưởng Trường THPT số 2 Đức Phổ (Quảng Ngãi), cho rằng chất lượng giáo dục phổ thông quyết định trực tiếp hiệu quả đào tạo ở các bậc học tiếp theo. Vì vậy, giáo dục phổ thông hiện nay không chỉ dừng ở việc truyền thụ kiến thức, mà cần tạo cơ hội để học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Việc ứng dụng Toán học, Vật lí, Hóa học hay Sinh học để giải quyết các vấn đề thực tế góp phần hình thành tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và năng lực làm việc trong môi trường hiện đại.

Quan điểm này cũng là tinh thần cốt lõi của Chương trình GDPT 2018. Theo ông Lê Mạnh Tấn - Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Văn Thoại (Đà Nẵng), chương trình mới đã chuyển từ định hướng “học sinh biết gì” sang “học sinh làm được gì”.

“Sự dịch chuyển này tương thích với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại, nơi kiến thức chuyên môn có thể thay đổi rất nhanh dưới tác động của công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Những phẩm chất và năng lực được hình thành từ trường phổ thông sẽ giúp học sinh tiếp cận tri thức mới và thích ứng tốt hơn với nghề nghiệp tương lai”, ông Tấn cho biết.

giao-duc-pho-thong-nen-mong-cua-nang-suat-lao-dong-2.jpg
Sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng tại vòng chung kết Cuộc thi Robocon ORC toàn quốc 2026. Ảnh: NTCC

Đầu tư từ gốc để nâng cao năng suất lao động

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, nhiều trường phổ thông đang chủ động thay đổi cách tổ chức dạy học.

Tại Trường THPT số 2 Đức Phổ (Quảng Ngãi), phát triển năng lực số và ngoại ngữ được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm. Theo ông Thạch Cảnh Bê, trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, học sinh muốn làm chủ máy móc và công nghệ phải có nền tảng về tin học và tiếng Anh. Dù Tin học là môn học lựa chọn, nhà trường vẫn chủ động định hướng học sinh đăng ký học.

Nếu mục tiêu ban đầu tối thiểu 8 trên 10 lớp khối 10 học môn này thì năm học tới dự kiến có tới 9 trên 10 lớp lựa chọn Tin học. Các câu lạc bộ tiếng Anh được duy trì thường xuyên nhằm tạo môi trường rèn luyện cho học sinh.

Nhà trường cũng bố trí giáo viên có năng lực phụ trách các nhóm học sinh có thế mạnh ngoại ngữ để phát huy năng lực và tạo lợi thế cho các em trong xét tuyển đại học cũng như hội nhập nghề nghiệp sau này.

Trong khi đó, tại Trường THPT Nguyễn Văn Thoại, các hoạt động STEM và học tập dự án được xem là giải pháp quan trọng để phát triển năng lực cho học sinh. Theo ông Lê Mạnh Tấn, thực tiễn triển khai cho thấy học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn, mà còn hình thành tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng tìm kiếm giải pháp mới.

Việc rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua STEM hay học tập dự án giúp học sinh tăng năng suất học tập. Các em không chỉ tiếp thu kiến thức nhanh, mà còn tìm ra cách làm hiệu quả hơn.

Nhà trường cũng chú trọng bồi dưỡng các phẩm chất như trách nhiệm, chăm chỉ và trung thực thông qua hoạt động trải nghiệm, phong trào thi đua và giáo dục kỷ luật tích cực. Theo ông Tấn, những phẩm chất được hình thành từ môi trường học đường góp phần tạo nên những người lao động có trách nhiệm, khả năng hợp tác và thích ứng tốt trong tương lai.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, giáo dục phổ thông vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. PGS.TS Võ Văn Minh chỉ ra tình trạng thiếu giáo viên kéo dài ở nhiều địa phương, sự chênh lệch điều kiện dạy học giữa các vùng miền, cùng áp lực nghề nghiệp đang là những thách thức lớn đối với quá trình đổi mới giáo dục.

Ở các trường phổ thông, khó khăn còn thể hiện ở cơ sở vật chất và đội ngũ. Ông Thạch Cảnh Bê cho biết, nhiều trường vùng nông thôn vẫn thiếu phòng học bộ môn, thiết bị STEM, hạ tầng công nghệ thông tin và gặp khó trong việc bố trí giáo viên cho một số môn học mới. Đáng chú ý tình trạng giáo viên có năng lực chuyển công tác sau khi được đào tạo, bồi dưỡng.

Theo các chuyên gia, muốn nâng cao năng suất lao động quốc gia từ gốc, cần tiếp tục đầu tư mạnh hơn cho giáo dục phổ thông.

Theo PGS.TS Võ Văn Minh trước hết cần thống nhất nhận thức rằng đầu tư cho giáo dục phổ thông chính là đầu tư cho phát triển. Không nên xem giáo dục chỉ là lĩnh vực tiêu dùng ngân sách mà phải xem đây như khoản đầu tư tạo ra nguồn vốn con người cho tương lai.

Cùng việc giải quyết căn cơ bài toán giáo viên, cần ưu tiên đầu tư trường học, phòng học bộ môn, thư viện, phòng thí nghiệm, hạ tầng số và thiết bị dạy học hiện đại. Đồng thời, phải bảo đảm mọi trẻ em đều có cơ hội tiếp cận giáo dục phổ thông chất lượng, bất kể nơi sinh sống hay điều kiện kinh tế gia đình.

Từ thực tiễn triển khai Chương trình GDPT 2018, ông Lê Mạnh Tấn cho rằng, việc thu hẹp “khoảng cách số” và khác biệt về điều kiện học tập giữa các nhóm học sinh cần được quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới.

Ông Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng: “Cần ưu tiên nguồn lực để mở rộng trường lớp, bảo đảm sĩ số phù hợp, đồng thời có chính sách đãi ngộ tốt hơn nhằm thu hút và giữ chân giáo viên giỏi. Có thể phát triển hệ thống học liệu số mở và dùng chung để học sinh mọi vùng miền có cơ hội tiếp cận nguồn tri thức chất lượng cao. Việc kết nối tài nguyên từ các trung tâm học liệu của trường đại học với hệ thống giáo dục phổ thông sẽ giúp học sinh và giáo viên ở mọi vùng miền tiếp cận tri thức một cách bình đẳng hơn”.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ