Khó khăn từ đầu vào
Tại Trường Cao đẳng Vĩnh Long, khoảng 1.500 học viên, sinh viên đang theo học 19 ngành cao đẳng và 17 ngành trung cấp. Theo bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phó Hiệu trưởng nhà trường, tiếng Anh được giảng dạy theo quy định; với một số ngành đặc thù, người học được học thêm tiếng Anh chuyên ngành nhằm hỗ trợ chuyên môn và thuận lợi hơn khi làm việc sau tốt nghiệp.
Về đội ngũ, trường có giáo viên chuyên ngành tiếng Anh, cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy. Tuy nhiên, khó khăn lại đến từ đầu vào của người học.
“Đa số các em có đầu vào thấp, một số em mất nền tảng kiến thức từ phổ thông nên việc học tiếng Anh ở đây có phần khó khăn”, bà Linh cho biết.
Theo lãnh đạo nhà trường, để tiếng Anh không chỉ dừng ở những tiết học trên lớp, cần tạo thêm không gian giao tiếp, trải nghiệm thông qua các chương trình giao lưu, câu lạc bộ. Tuy nhiên, kinh phí dành cho những hoạt động này còn hạn chế.
Nhà trường sẵn sàng đẩy mạnh tiếng Anh trong đào tạo, nhưng để đạt hiệu quả, theo bà Linh, cần từng bước tháo gỡ đồng thời những khó khăn về người học, môi trường học tập và nguồn lực tổ chức các hoạt động bổ trợ.
Tại Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Long, bài toán cũng có điểm tương đồng. Ông Huỳnh Minh Hiệp, Phó Hiệu trưởng nhà trường cho biết, tiếng Anh hiện được đưa vào chương trình đào tạo cơ bản. Sinh viên hệ cao đẳng học 3 tín chỉ, còn học viên trung cấp học 2 tín chỉ.
Trường hiện có khoảng 900 người học và đội ngũ giáo viên tiếng Anh đáp ứng nhu cầu giảng dạy. Một số giáo viên đang tiếp tục học Ngôn ngữ Anh, dự kiến bổ sung thêm nhân lực cho thời gian tới.
Thế nhưng, khó khăn lớn lại nằm ở động lực học tập. Theo ông Hiệp, có tình trạng sinh viên, học viên học tiếng Anh chủ yếu để đủ điều kiện tốt nghiệp chứ chưa thực sự mặn mà.
Nhà trường từng tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh nhằm tạo môi trường để người học giao tiếp, trao đổi và thực hành. Tuy nhiên, không có học viên, sinh viên tham gia.
“Nhà trường luôn cố gắng để giảng dạy cho các em thật tốt nhưng việc còn lại phải là ý thức của các em”, ông Hiệp nói.
Giáo trình tiếng Anh tại trường được xây dựng theo khung chương trình do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành trước đây và được cập nhật thường xuyên.
Gỡ nút thắt từ đội ngũ đến môi trường sử dụng
Thực tế tại tỉnh An Giang cho thấy bài toán nhân lực vẫn là trở ngại lớn đối với Giáo dục thường xuyên và Giáo dục nghề nghiệp.
Theo thông tin từ các cơ sở GDNN-GDTX tại tỉnh An Giang, toàn tỉnh hiện có 10 giáo viên tiếng Anh đang giảng dạy tại các Trung tâm GDTX và Trung tâm GDNN-GDTX. Có 5/11 Trung tâm chưa có giáo viên tiếng Anh, gồm các Trung tâm GDNN-GDTX An Phú, Châu Thành, Phú Tân, Tịnh Biên và Thoại Sơn. Một số trung tâm khác chỉ có một giáo viên.
Tại Trung tâm GDNN-GDTX An Phú, ông Nguyễn Minh Phụng, Giám đốc Trung tâm, cho biết đơn vị sẽ triển khai Đề án theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh và Sở GD&ĐT. Tuy nhiên, thời gian qua Trung tâm không có giáo viên tiếng Anh nên chưa tổ chức được môn học này.
Theo ông Phụng, đây là một trong những khó khăn trực tiếp đối với việc triển khai Đề án. Trung tâm đề xuất Sở GD&ĐT thành lập Bộ môn Tiếng Anh để từng bước xây dựng đội ngũ, tổ chức dạy học và đáp ứng yêu cầu mới.
Không chỉ thiếu giáo viên, các Trung tâm GDNN-GDTX tại An Giang còn gặp khó về phòng học chuyên biệt, thiết bị và học liệu. Hệ thống GDTX còn 15 phòng học tiếng Anh chưa được đầu tư; nguồn học liệu điện tử, học liệu số chưa đồng bộ và chủ yếu tập trung ở những cơ sở có điều kiện...
Như vậy, từ tỉnh Vĩnh Long đến tỉnh An Giang, những khó khăn xuất hiện ở các cấp độ khác nhau. Có nơi thiếu giáo viên; có nơi đội ngũ cơ bản đáp ứng nhưng người học yếu nền tảng; nơi khác lại khó tạo được môi trường thực hành và động lực học tập.
Đây cũng là lý do việc triển khai Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không thể chỉ được hiểu là tăng số tiết hoặc đưa thêm tiếng Anh vào chương trình. Với Giáo dục nghề nghiệp, ngoại ngữ cần gắn với từng ngành nghề, vị trí việc làm và yêu cầu của thị trường lao động. Với Giáo dục thường xuyên, chương trình cần linh hoạt hơn để phù hợp với nhiều nhóm người học, trong đó có những người đã mất nền tảng tiếng Anh từ bậc học phổ thông.
Một trong những hướng được tỉnh An Giang xác định là phát triển, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên tiếng Anh; hình thành giáo viên cốt cán, giáo viên đầu ngành hỗ trợ chuyên môn tại các cơ sở. Địa phương cũng định hướng liên kết giữa các trường đại học sư phạm, đại học chuyên ngữ với cơ sở GDPT, GDNN và GDTX trong đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ chuyên môn.
Cùng với đó, cần đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, học liệu số và khai thác công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ dạy và học tiếng Anh. Hình thức kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến cũng cần được triển khai phù hợp, nhất là trong giáo dục thường xuyên.
Để tiếng Anh thực sự trở thành công cụ học tập và nghề nghiệp, người học cần nhìn thấy lợi ích cụ thể của ngoại ngữ đối với việc làm sau tốt nghiệp. Khi tiếng Anh được đưa vào chính các tình huống nghề nghiệp, tài liệu chuyên môn, hoạt động thực hành và giao tiếp với doanh nghiệp, ngoại ngữ mới có cơ hội thoát khỏi vị trí của một môn học bắt buộc để trở thành năng lực nghề nghiệp.