Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam năm 2026, Bộ VH,TT&DL tổ chức Lễ công bố Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam và danh mục 17 bài toán trọng tâm năm 2026, thúc đẩy hợp tác giữa các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, góp phần đưa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế.
Kết nối di sản, kiến tạo giá trị
Theo Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Lâm Thị Phương Thanh, các sản phẩm như phim hoạt hình “Dế Mèn: Cuộc phiêu lưu tới xóm Lầy Lội”, vở xiếc “Sơn thần - Thủy quái” cùng các chương trình: Tinh hoa Bắc Bộ, Hoa Lư vũ hoạ, Ký ức Hội An cho thấy tiềm năng khai thác chất liệu văn hóa Việt Nam trong sáng tạo nghệ thuật.
Những sản phẩm này chứng minh văn hóa không chỉ là tài sản mà còn là chất liệu để sáng tạo. Một câu chuyện dân gian có thể trở thành phim ảnh, trò chơi điện tử; một di sản có thể khơi nguồn cho thiết kế, thủ công mỹ nghệ và du lịch; một chương trình nghệ thuật có thể tạo thêm lý do để du khách lưu lại điểm đến.
Tuy nhiên, từ ý tưởng đến sản phẩm được công chúng lựa chọn là một quá trình cần vốn, công nghệ, nhân lực, bản quyền và năng lực tổ chức thị trường. Nếu thiếu những mắt xích ấy, giá trị văn hóa có thể dừng lại ở tiềm năng, chưa tạo ra hiệu quả kinh tế tương xứng.
Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam được công bố cùng danh mục 17 bài toán trọng tâm năm 2026, bao quát các lĩnh vực từ dữ liệu số, hạ tầng sản xuất đến phát triển sản phẩm và thương hiệu, hướng tới kết nối hoạt động sáng tạo văn hóa với thị trường.
Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, bản sao số di sản và không gian văn hóa Cultureverse hướng tới số hóa, kết nối tư liệu văn hóa, phục vụ nghiên cứu, giáo dục, sản xuất nội dung và tạo nguồn chất liệu cho doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo phát triển sản phẩm mới.
Giá trị của dữ liệu không chỉ ở việc lưu trữ, mà còn ở khả năng đưa tư liệu vào sử dụng. Điều đó đòi hỏi cơ chế chia sẻ phù hợp, chất lượng dữ liệu và bảo vệ quyền tác giả, quyền của chủ thể nắm giữ di sản.
Ở khâu sản xuất và thương mại hóa, “Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa” hướng tới kết nối người sáng tạo, chủ sở hữu bản quyền, nhà đầu tư và thị trường; phim trường số cung cấp hạ tầng sản xuất phim, còn nền tảng điều khiển nghệ thuật biểu diễn hỗ trợ kết hợp âm thanh, ánh sáng, hình ảnh và chuyển động.
Các sáng kiến hướng tới kết nối người sáng tạo với nguồn lực, đối tác và thị trường, giúp doanh nghiệp tiếp cận chất liệu văn hóa, công nghệ và sản phẩm mới, qua đó mở rộng khả năng thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Văn hóa Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu
Các bài toán về game thuần Việt, âm nhạc, thời trang, ẩm thực và du lịch số hướng tới khai thác chất liệu văn hóa. Trong đó: Hào khí Đông A, Sơn Hà Dị lục dự kiến phát hành năm 2027; Dáng Việt, Hương Phở, Hương Trà, Men Việt phát triển sản phẩm mang bản sắc Việt, còn Vietnam.Travel và Visit Vietnam ứng dụng dữ liệu, AI để kết nối du khách với dịch vụ.
Giá trị của công nghiệp văn hóa nằm ở khả năng liên kết các lĩnh vực: Phim ảnh có thể mở rộng sang game, thiết kế và du lịch; biểu diễn kết nối với lưu trú, ẩm thực, vận tải; dữ liệu phục vụ nhiều hoạt động sáng tạo. Nếu thiếu đối tác và phương án kinh doanh, các sáng kiến dễ rời rạc, khó phát huy hiệu quả.
Trong thông điệp, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL nhấn mạnh vai trò của doanh nhân trong việc biến tài nguyên di sản, trí tuệ dân tộc thành tài sản trí tuệ, sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế cao, đủ sức cạnh tranh quốc tế. Theo đó, bản sắc Việt Nam là lợi thế cạnh tranh, còn công nghệ và trí tuệ nhân tạo mở rộng khả năng sáng tạo, đưa sản phẩm đến với nhiều người hơn.
Tinh thần này được thể hiện qua mô hình “1 + 1 + N”: Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng nền tảng; doanh nghiệp dẫn dắt bằng nguồn lực, công nghệ và năng lực thị trường; cộng đồng đóng góp tri thức, tài năng, đồng thời tham gia sáng tạo và thụ hưởng giá trị.
Nhà nước có vai trò hoàn thiện cơ chế, hỗ trợ hạ tầng dùng chung và tháo gỡ rào cản. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu, đầu tư, tổ chức sản xuất đến phân phối và xây dựng thương hiệu. Nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu và cộng đồng nắm giữ di sản đóng góp tri thức, bản sắc, đồng thời cần được bảo đảm quyền lợi khi các giá trị văn hóa được khai thác.
Doanh nghiệp công nghệ có thể cùng nghệ nhân phát triển sản phẩm số; đơn vị du lịch đặt hàng chương trình biểu diễn; nhà sản xuất phim hợp tác khai thác nhân vật, câu chuyện và sản phẩm phái sinh. Những liên kết này mở rộng cơ hội kinh doanh, đồng thời đưa văn hóa đến gần hơn với đời sống đương đại.
Hiệu quả của Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam cần được thể hiện qua các dự án thực tế, sản phẩm ra thị trường và khả năng duy trì hợp tác lâu dài, thay vì chỉ tính số thành viên hay chương trình được công bố.
Chủ trương dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa cũng mở thêm nguồn lực phát triển, đòi hỏi việc phân bổ gắn với mục tiêu cụ thể, hiệu quả đo lường được và khả năng huy động đầu tư xã hội.
Công nghiệp văn hóa chỉ phát triển bền vững khi ý tưởng và công nghệ tạo ra sản phẩm có chất lượng, được thị trường đón nhận. Hiệu quả không chỉ nằm ở doanh thu mà còn ở thu nhập của người sáng tạo, lợi ích của cộng đồng nắm giữ di sản và việc bảo vệ bản quyền, gìn giữ giá trị văn hóa.
Kết nối nguồn lực văn hóa với công nghệ, năng lực kinh doanh và nhu cầu công chúng sẽ giúp Việt Nam phát huy bản sắc, nâng cao sức mạnh mềm và tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
“Công nghiệp văn hoá đưa bản sắc và sức sáng tạo Việt Nam thành sản phẩm, việc làm và động lực tăng trưởng; đồng thời bồi đắp niềm tự hào dân tộc, nâng cao sức hấp dẫn Việt Nam, của sản phẩm Make in Vietnam trên trường quốc tế. Hướng đi của chúng ta là hội tụ văn hoá, thể thao, du lịch với công nghệ và trí tuệ nhân tạo, lấy bản sắc Việt Nam làm giá trị cốt lõi”, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Lâm Thị Phương Thanh.