Đỉnh dốc nào cũng đang đợi ai lên

GD&TĐ - Từ những thầy giáo miền xuôi vượt núi lên gieo chữ đến hành trình vượt khó của những người con dân tộc thiểu số, nhiều thế hệ đã góp sức xây dựng Lai Châu, vùng đất biên viễn xa xôi ngày một giàu đẹp.

Đỉnh dốc nào cũng đang đợi ai lên

1. Tôi lần đầu lên Tây Bắc, đúng dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Đêm trước ngày xuất phát, tâm trạng tôi như lần tòng quân, không ra lo lắng nhưng trở dậy uống nước, xem giờ và thao thức hình dung về Tây Bắc cùng những người bạn của mình lên đó dạy học.

Chẳng hiểu có gì mách bảo không mà người lái xe quyết định dừng nghỉ đúng ở Mường Ẳng, nơi “Mường Ẳng, ngày… tháng… năm…” một thời thư bạn gửi về Hoành Bồ cho tôi. Bạn dạy học, viết văn với bút danh Du An mà tôi chiết tự tên thật Nguyễn Anh Dũng, mong bạn đi nhiều và bình an.

Sau dằng dặc cách xa, tôi lặng ngồi nghe Du An kể về những năm tháng chân vượt từng con dốc, mắt ngắm bao làn mây nô đùa với đỉnh non cao. Chàng đô hẳn so với thời đèn sách ở Xuân Hoà, rõ vóc dáng với vai vạm vỡ gồng xuống như gấu, nhưng gương mặt vẫn không mập ra hay gầy đi mà rõ đường nét. Khi nói chuyện ánh mắt cười cùng nhoẻn miệng, chốc chốc hướng ra cửa, như chờ mong ai tới.

Lên được với Lai Châu - Du An nhìn xa xăm - phải chờ xe ô tô khách ở K14 trạm Phố Lu (Lào Cai), sáu ngày mới được lên xe, và ngồi xe ròng rã ba ngày nữa mới tới thủ phủ Lai Châu (Mường Lay). Sự việc như mới hôm qua mà giờ chính người kể cũng cảm thấy khó tin. Những cảnh đi lại xưa tự nhiên lại nhớ về: Đường thì trồi sụt, xe thì ì ạch, đi như bò, chốc chốc phải dừng lại vì nhiều lý do như sạt đường, hỏng máy, bục lốp… Trước và sau Du An, biết bao trí thức trẻ khoác ba lô đến với Lai Châu một cách vô tư như mây trắng với trời xanh, tự nhiên phải thế.

Cứ nghĩ đến cảnh bắt tàu xe là giật mình, người ở xuôi ngại lên, người lên rồi ngại xuống, đến cái Tết thứ hai mốt Du An mới dám về quê Hạ Hoà, Phú Thọ. Ấy vậy mà khi mẹ ốm nặng kéo dài rồi về miền mây trắng, Du An thường xuyên phóng xe máy từ Điện Biên về quê trên 460 km, thời gian tầm mười một tiếng, với hai lần đổ xăng, dăm lần ngả lưng ven đường.

Lần đầu lên Tây Bắc, tôi viết bài thơ “Tây Bắc gọi tên” đề tặng “Sơn - Tăng - Dũng”, những thầy giáo bạn tôi đã đến với Lai Châu: Trần Ngọc Sơn, Nguyễn Tiến Tăng, Nguyễn Anh Dũng (Du An).

Các thầy giáo, trí thức trẻ mang trong mình tinh thần người lính đến với Lai Châu rồi cùng ở lại, như nước hoà vào nhau mà thương suối, như cây tựa vào cây mà yêu rừng. Những đỉnh dốc “hò dô ta” kéo pháo vào chiến dịch, cũng là nơi ngày chiến thắng vẫy tay hứa hẹn, lúc nào cũng ngóng chờ người lên.

Vì từng qua quân ngũ nên tôi không thuộc diện điều lên Lai Châu công tác, nhưng khi tới đây, tự thấy mình chưa có được dũng khí xung phong “ngược sông Đà” như các bạn của mình.

1793332993307-7141635090997808509-g3921761120524609549-2858c31a869335244626ff8de0fe9724.jpg
Các nhà văn thăm Đồn Biên phòng Thu Lũm.

2. Thầy Nguyễn Tiến Tăng có những nét đẹp mà ngay cả nữ giới mong muốn có: Da trắng, môi hồng, gương mặt sáng, thần thái kiên định. Cùng quê thành phố Hải Phòng, thầy bên Tiên Lãng, tôi bên Vĩnh Bảo, hai vùng đều là đất thuốc lào, cách nhau con sông Thái Bình. Thời sinh viên, chúng tôi lễ mễ ôm đặc sản này lên bán ở chợ gần trường để có tiền tàu xe.

Lúc đầu làm giáo viên dạy văn tại Trường THPT Điện Biên 1, ngay dưới chân đồi A1 và trước khi nghỉ hưu là Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Lai Châu, thầy Tăng chủ yếu công tác lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực cho quê hương Lai Châu: Phó Chánh Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo, Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Tam Đường, Giám đốc Sở Nội vụ kiêm Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ.

Gặp bạn khi mới chia tỉnh, cả nhà dồn vào căn tập thể cấp bốn, rót cốc mật ong bạn nói: “Mật xịn đấy, mời anh uống thay trà”. Thế mà lần sau tôi đến, bạn đã trải chiếu, bày cỗ đón khách trong căn nhà khang trang bám mặt phố, không xa khu hợp khối, cách gọi tắt của Lai Châu về khu các toà nhà Trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh. Không riêng nhà bạn, khu vực này nhà nào cũng rộng thế, đường phố nào cũng phong quang. Một đô thị được kiến trúc và xây dựng đồng thời, đồng bộ từ ban đầu, có Tượng đài Bác Hồ, có Quảng trường nhân dân, có vườn cây, hồ nước… nền trời luôn xanh từ sớm cùng mây trắng tinh khôi, khoảng không gian nào cũng cho ta thư thái, tôi nghĩ đô thị Lai Châu khác nào một resort, một sự phát triển có quy hoạch, nhìn xa trông rộng.

Làm cán bộ, công chức luôn phải tuân thủ các quy định, nếu không dễ mắc sai lầm, khuyết điểm, nhưng làm thầy lại khác, đạt tới mục tiêu bài giảng theo chương trình phải có “thăng hoa” của mình, nhất là gợi cho học sinh sự hứng khởi, ham muốn tự khám phá. Không ít lần cùng nhau ngồi nhớ nghề dạy học, thầy Tăng nói với tôi như thế.

Vì thế mà tôi tin có những giờ giảng văn ở Tây Bắc, thầy Tăng đọc trầm hùng áng thơ của Lê Thái Tổ về toàn vẹn giang sơn, bảo vệ biên cương, khắc trên núi đá ở Lai Châu: “Thảo mộc kinh phong hạc/ Sơn xuyên nhập bản đồ/ Đề thi khắc nham thạch/ Trấn ngã Việt Tây ngu” (Gió thổi, hạc kêu làm cho loài (giặc) cỏ rả run sợ/ Núi sông đã vào chung một bản đồ/ Đề thơ khắc vào núi đá/ Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta”.

Ngọn lửa văn chương từ thầy Tăng trao truyền đã có học trò tiếp giữ: Nhà thơ Phùng Hải Yến, sinh năm 1985, dân tộc Dao, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh kiêm Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Lai Châu.

Thầy Tăng thấy tôi có mặt trong một bức ảnh tập thể trên Facebook của Phùng Hải Yến đã nhắn tin: “Cô học sinh đội tuyển học sinh giỏi văn hơn hai mươi năm trước từ cao nguyên Sìn Hồ xuống phố “luyện công” giờ đã chững chạc giữa làng văn, thật tự hào”. Tôi nhắn lại: “Thầy là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh nhiều năm thì trò cũng phải xuất sắc chứ”.

Trò trọng thầy, thầy dõi theo bước trưởng thành của trò. Nhớ lần tôi cùng các bạn văn nghệ dừng lại Lai Châu, thầy Tăng điện thoại mời cơm còn nói: “Để em mời nhà văn Phùng Hải Yến cùng tiếp các bác tối nay”.

Chính có tối hôm đó mà tôi mới biết nhà thơ Bùi Thị Sơn, tác giả bài thơ “Trai rừng” được phổ nhạc có điệp khúc “Tao thích mày”, là mẹ của Phùng Hải Yến. Tây Bắc - Lai Châu ẩn chứa biết bao giá trị, nếu không thực sự hoà mình thì sao thấu cảm được.

Thầy Trần Ngọc Sơn và thầy Nguyễn Tiến Tăng cùng lớp, cùng Khoa Ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng quê Hải Phòng và cùng chuyến xe lên Lai Châu năm 1987. Thầy Sơn vóc dáng nhỏ, nổi tiếng thời sinh viên là người thuộc nhiều tiểu thuyết Trung Hoa, được các bạn nữ trong khoa thích nghe kể lại. Ban đầu thầy làm giảng viên tám năm Trường Trung học Sư phạm Lai Châu, trải qua nhiều vị trí quản lý giáo dục, khi nghỉ hưu là Phó Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Thầy Sơn tự hào trong số giáo sinh học thầy có nhiều người là phó hiệu trưởng, hiệu trưởng, là cán bộ Đảng, chính quyền ở cả Lai Châu cũ và Lai Châu mới. Ông Trần Đức Hiển, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Lai Châu, người quê Thái Bình (nay là Hưng Yên), học sinh Trung học Sư phạm hệ 12+2 của thầy Sơn là một trong số đó.

Tốt nghiệp Trung học sư phạm, chàng trai trẻ Trần Đức Hiển về huyện Mường Tè làm giáo viên cắm bản. Từ giáo viên, thầy Hiển phấn đấu đủ năng lực và tín nhiệm, được cấp trên quyết định đảm nhiệm các vị trí: Phó hiệu trưởng, hiệu trưởng, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phó Chủ tịch UBND huyện. Trước khi giữ chức Phó Giám đốc Sở Nội vụ, thầy Hiển là Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ Mường Tè. Trải qua những vị trí công tác như thế nên thầy thuộc như lòng bàn tay tình hình của Mường Tè, nhất là công tác giáo dục. Thời điểm còn đơn vị hành chính cấp huyện, tỷ lệ hộ nghèo của huyện Mường Tè giảm mỗi năm trên năm phần trăm. Huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi. Từ một huyện có rất ít học sinh được vào đại học chính quy, nhưng năm 2012 đã có nhiều em thi đỗ và các năm sau đông dần lên hàng chục...

Lớp thanh niên trẻ từ miền xuôi lên với Lai Châu như Nguyễn Đức Hiển đã và đang góp sức cho quê hương mà mình gắn bó. Nếu không được một sĩ quan bộ đội biên phòng giới thiệu thì sao tôi biết mình đang trò chuyện với người con gái Hà Nhì có đôi mắt biết cười Lỳ Xì Lứ. Lứ sinh năm 1991, tốt nghiệp Đại học ngành Luật, chuyên viên Phòng Văn hoá - Xã hội của UBND xã Thu Lũm - xã thuộc huyện Mường Tè trước đây. Ngày một nhiều cán bộ trẻ người dân tộc thiểu số tốt nghiệp đại học như Lứ, đồng thời với ngày một nhiều những nhân tố mới trong sản xuất, đời sống ở các thôn, bản.

Chứng kiến những công trình trường học liên cấp nội trú đang gấp rút hoàn thành cho năm học mới ở các xã biên giới, tôi nghĩ tới khung cảnh từng em học sinh rạng rỡ với trang phục của dân tộc mình, vui chơi trên sân trường, từ trên cao nhìn xuống như một thảm hoa khổng lồ với sắc màu di động. Ngang hai bên cổng trường trồng cây hoa ban, dọc đường lên trường trồng cây hoa tớ dày, đỉnh Pu Si Lung đón mây, chân núi sông Đà vượt thác. Chính các em học sinh trên non cao này vừa là nhân vật, vừa là họa sĩ của bức tranh quê hương mình.

1793333000665-7141635090997808509-g3921761120524609549-7389df4af0d37b79f933eb33bcb11fba.jpg
Trẻ em Sin Suối Hồ với du khách.

3. Thầy Du An ở Mường Ẳng được chứng kiến gần như “vỡ trường”, có khối chỉ một lớp với chín học sinh. Vỡ thì dựng lại, thầy đi tìm trò, tới các bản vùng sâu được người dân gọi là “người giống”, người mang lại cho học sinh kiến thức để trở thành người mới, trồng ngô sai bắp, dưỡng được ngựa hay. Sự nghiệp “trồng người” thì người thầy hẳn phải là “người giống” rồi, nghĩ đến đây thầy Du An “à” lên một tiếng, sau đó viết được truyện ngắn “Mường giống”. Nghe lại truyện ngắn đó trên nền tảng điện tử của VOV mà thầm phục tài văn Du An. Cuộc đời thật công bằng, nếu Du An không trải những khó khăn, vất vả, thì sao có thể gặt hái những mùa hoa ngát hương của không gian văn hoá Tây Bắc.

Biết tôi lên Thu Lũm, thầy Du An điện thoại “em có học trò Chu Pó Xá quê bản Pa Thắng, xã Thu Lũm, người Hà Nhì, là bác sĩ ở Bệnh viện Mường Tè”.

Nhờ thầy Du An giới thiệu chúng tôi kết nối Zalo, bác sĩ Xá nhắn:

“Em giờ đang ở Thái Nguyên, đưa cháu ngoại nhập học Trường Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên ạ”.

Học viên bổ túc văn hóa của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Lai Châu khóa 2000-2002 đa phần là cán bộ của các ngành như công an, biên phòng, y tế, đoàn thanh niên, giáo viên tiểu học, nhiều nhất là các huyện vùng cao như Sìn Hồ, Tủa Chùa, Mường Lay, Mường Tè…

Lớp thầy Du An chủ nhiệm có 22 học viên, nhiều người đã có vợ con. Khó khăn nhất với số cán bộ đi học này là tiếp thu kiến thức chậm, do bỏ học thời gian dài. Chu Pó Xá khi “dứt áo xuống tỉnh tìm con chữ” đã 29 tuổi, có vợ và 4 con. Học viên phải đối diện với nhiều khó khăn như xa nhà, tiền chỉ đủ ăn và thuê nhà trọ… nhiều lúc tưởng phải bỏ cuộc. Xá tâm sự với thầy chủ nhiệm về mơ ước tốt nghiệp trung học phổ thông để đi học bác sĩ chuyên tu, lấy bằng bác sĩ, về quê cuộc sống sẽ khá hơn.

Chu Pó Xá lấy được tấm bằng bác sĩ gian khổ không kém Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh.

Xá sinh năm 1971, là con thứ ba, nhưng là trai cả, lao động chính làm nương, săn bắt thú rừng của gia đình 9 chị em, 6 nữ, 3 nam. Khi tròn 14 tuổi, Xá nói với mẹ rất muốn đi học cái chữ. Lo không có người làm việc nhà, mẹ ra điều kiện nếu đi học thì phải… lấy vợ. Sau lễ ăn hỏi, Xá ra huyện học, nhưng do quá tuổi vào học trường phổ thông nội trú, nên Phòng Giáo dục bố trí cho học trường bổ túc cán bộ. Khi đó cả hai xã Ka Lăng và Thu Lũm có 13 người theo học, nhưng đến khi hết lớp 8 ra trường chỉ còn mỗi Xá. Năm cuối cấp II, lãnh đạo Đài Phát thanh Lai Châu vào tuyển nhân viên, nhà trường tạo điều kiện cho đi, nhưng gia đình ái ngại vì lương quá thấp.

Điều kiện gia đình không thể lo cho Xá học lên trung học phổ thông, bố mẹ gọi anh về cưới vợ. Là người có chữ của bản, Xá tham gia nhiều vị trí công tác, như Phó Chủ nhiệm bản Pa Thắng, Bí thư Chi đoàn bản rồi phấn đấu lên Phó Bí thư Đoàn xã Thu Lũm. Chứng kiến bao người bị chết do sốt rét, sởi biến chứng, uốn ván sơ sinh… khiến Xá thôi thúc muốn trở thành một y sĩ, chứ chưa mơ ước đến bác sĩ.

Có chữ trong bụng, con mắt nhìn trời thêm cao rộng, lòng rộn lên những khát vọng. Năm 1994 Xá quyết định đăng ký học Trường Trung cấp Y Lai Châu. Đăng ký xong lại đâm lo tiền đâu để ăn học trong 3 năm, một bên bố mẹ nghèo, một bên vợ và hai con nhỏ, thêm nữa từ nhà đến nơi học mất năm ngày đi đường.

Học Trung cấp y với Xá năm đầu thật cực nhọc, là một trong 6 người học yếu của lớp, lý do là chưa thông thạo tiếng phổ thông, viết còn sai chính tả lại gặp từ chuyên ngành y, có tiết học không kịp ghi chép, đành bỏ trống. Không thể thua kém, không thể bỏ cuộc, Xá nghĩ trái ớt cay được thì mình cũng phải học được. Như bàn thắng bóng đá quyết định phút bù giờ cuối cùng, kết quả tốt nghiệp bằng giỏi Trung cấp y của Xá được bạn bè nhảy lên reo mừng, có thầy ngấn lệ nghĩ đến nỗ lực của chàng trai Thu Lũm đã được đền đáp.

Sau hai năm công tác tại Trung tâm y tế huyện Mường Tè, Xá học tiếp hai năm lớp thầy Du An để có bằng trung học phổ thông rồi học tiếp lên. Nhận bằng trung học phổ thông, Xá trở về cơ quan cũ vừa làm vừa thi đỗ vào Đại học Y khoa Thái Nguyên. Nhận tấm bằng Bác sĩ chuyên khoa ngoại, Xá đã toại nguyện lòng mong ước.

Ngỡ tưởng sẽ gặp được nhau ở Lai Châu, nhưng khi Xá đưa cháu ngoại nhập học đại học ở Thái Nguyên về đến Lai Châu, thì tôi cũng rời Lai Châu về tới Quảng Ninh. Không gặp được nhau thì chúng tôi mở rộng chia sẻ từ Zalo sang cả Facebook nữa.

Tên Facebook của Chu Pó Xá là “Xá Pì Lì”. Theo tiếng Hà Nhì, khi bạn bè gặp nhau uống rượu là uống “Pì Lì”, phải đầy chén và phải uống cạn, đầy là bằng mặt, cạn là bằng lòng, không so đo, thế mới là tri kỷ. May mà tôi có hỏi, nếu không chẳng bao giờ biết được “Xá” với “Pì Lì” nó ý nghĩa sâu sắc đến thế.

Thầy Du An thì chưa, nhưng tôi vừa được lên bản Pa Thắng chiêm bái hòn Đá trắng, thủ lĩnh của núi rừng nơi biên cương, vị thần của đồng bào Hà Nhì nơi đây.

Núi ở Lai Châu cao, người Lai Châu không chịu cúi đầu. Người Hà Nhì có bác sĩ Chu Pó Xá, thì người Thái, Giáy, Lào, Lự, Mảng, Kháng, Khơ Mú, Mông, Dao, La Hủ, Cống, Si La… cũng có “Chu Pó Xá” của dân tộc mình.

Đội ngũ “Chu Pó Xá” ngày một đông, nguồn nhân lực chất lượng cao của Lai Châu đều có công sức của “người giống”.

1793333006025-7141635090997808509-g3921761120524609549-3de75c2121033b2ce8cd18f5405cc387.jpg
Cùng Lỳ Xì Lứ, người Hà Nhì, cán bộ xã Thu Lũm.

4. Các thầy giáo, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức trẻ từ nhiều vùng đất nước về với miền đất biên cương thượng nguồn sông Đà cũng góp phần đột phá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh Lai Châu. Họ cùng với người dân bản địa đã và đang lan toả giá trị văn hoá các dân tộc bằng các sản phẩm du lịch đặc sắc.

Đến mây trời cũng lộng lẫy thanh tân với miền đất này huống chi lòng người, tâm hồn người Lai Châu vì thế mà phóng khoáng, rộng mở.

Nói đến các nhà văn ở Lai Châu nhiều người nhắc ngay tới nhà thơ Đỗ Thị Tấc, sinh ra ở Hưng Yên nhưng gắn bó với Lai Châu từ nhỏ. Cùng diện cán bộ đi học, tôi lớp Báo 9, Đỗ Thị Tấc lớp Báo 11 của khoa Báo chí, Đại học Tuyên giáo (Học viện Báo chí và tuyên truyền). Thời đấy chúng tôi tổ chức nhiều đêm thơ nhạc mà không thấy chị tham gia nhưng sau đó tôi sửng sốt với bài thơ “Hai vòng thia lia” của chị, một kỷ niệm chân thật nhưng dồn nén ẩn ức, nói ra một cách giản dị đã là thơ. Bài thơ đã được giải thưởng cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ năm 1995. Không chỉ sáng tác, chị còn tiên phong sưu tầm và bảo tồn văn hoá dân gian các dân tộc tỉnh Lai Châu.

Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lai Châu - Lớp 9 giới thiệu các nhà văn tiêu biểu của tỉnh, cùng với nhà thơ Đỗ Thị Tấc là nhà văn Huỳnh Nguyên, nhà văn Hà Mạnh Phong và nhà thơ Phùng Hải Yến.

Nhà văn Huỳnh Nguyên tên thật Nguyễn Văn Tịnh, sinh năm 1940 tại Huế, sớm gắn bó với Lai Châu bằng nghề dạy học và từ đó sáng tác văn chương. Ông đã có gia tài bảy tập thơ và bốn tập tiểu thuyết. Nhà văn Hà Mạnh Phong đã mất năm 2021, đầu năm 2022, khi tới Lai Châu, tôi và nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã tới nhà thắp hương tưởng nhớ anh.

Tôi đến với Lai Châu, lần đầu vào năm 2004, khi vừa thành lập tỉnh, lần gần nhất tháng 8/2026, tôi cùng hai nhà văn Vũ Thảo Ngọc và Trần Mai Lan của Quảng Ninh tham gia trại sáng tác “Viết về Lai Châu”.

Để chuẩn bị cho các tác phẩm tham dự trại, tôi “ới” xin tài liệu về tỉnh Lai Châu từ Lò Văn Thanh, người Thái, quê Điện Biên, bạn học Đề án 165 tại Trung Quốc, công tác trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư của tỉnh. Tôi nhận ngay được hai bản sách điện tử: “Cẩm nang du lịch Lai Châu” và “Lai Châu - Nơi tiềm năng hội tụ”. Nội dung các sách có đủ thông tin tiềm năng cần khai thác cho các nhà đầu tư và giới thiệu điểm đến hấp dẫn cho du khách.

Xã Thu Lũm mới gồm cả xã Ka Lăng, là một điểm đến lý tưởng ở Lai Châu, nơi sông Đà chảy vào đất Việt, nơi có sản vật ớt trung đoàn thơm và siêu cay bậc nhất Tây Bắc. Tới đây tôi nhớ món quà Tết là lọ ớt trung đoàn đặc sản Thu Lũm mà mình được bạn tặng.

Đã đến với ngọn nguồn sông Hồng, từng tới cả Trường Sa, nhưng nay tôi mới được tới nơi sông Đà chảy vào đất Việt ở Thu Lũm. Thu Lũm có nghĩa là gì? Tôi tìm hiểu và được chị Lỳ Xì Lứ ở xã Thu Lũm giải thích: Người Hà Nhì có từ “xá lú thú” ý là vui vẻ, hạnh phúc của ngày hội và “thu lú” cũng là âm đó rồi chệnh đi thành “Thu Lũm”. Còn Lò Văn Thanh thì cho rằng, “Lũm” và “Lăng” đều có nghĩa là “long”, tức là rồng. Tên gọi Thu Lũm vì thế gợi liên tưởng đến hình ảnh con rồng. Địa hình nơi đây nằm trên những sườn đồi uốn lượn như sống lưng rồng, con người với những bộ trang phục truyền thống rực rỡ cũng gợi vẻ đẹp lộng lẫy của rồng. Đặc biệt, sông Đà - dòng sông của thi ca - chảy vào đất Việt từ Thu Lũm, uốn lượn giữa núi rừng như một con rồng, càng làm cho ý nghĩa về “vùng đất hình rồng” trở nên đặc biệt.

Những tầng sâu văn hoá các dân tộc trên từng vùng đất của Lai Châu vẫn còn nhiều bí mật, chờ đợi sự khám phá của các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ. Các tác giả, nghệ nhân sinh ra và lớn lên từ chính mảnh đất này góp phần trả lời về đặc sắc văn hoá của Lai Châu. Lực lượng này tiêu biểu là các nghệ nhân: Lò Văn Sơi, nghiên cứu, sưu tầm, biểu diễn văn nghệ dân gian, Điêu Văn Thuyển truyền dạy chữ Thái; cùng các giả: Nguyễn Xuân Lộc (nhiếp ảnh), Phùng Hải Yến (thơ), Đặng Thuỳ Tiên và Vàng Ly (văn xuôi)…

Đội ngũ văn nghệ sĩ trẻ đa lĩnh vực từ miền xuôi lên với Lai Châu đang tràn đầy nhiệt huyết sáng tạo, có thể kể đến các tác giả: Phạm Đào, Đinh Hồng Nhung, Châm Võ (thơ); Trịnh Hồng Hải, Nguyễn Hồng, Hà Minh Hưng, Nguyễn Chanh, Đào Thanh Tám (văn xuôi); Nguyễn Hùng Cường, Huỳnh Nghĩa Bình, Nguyễn Văn Điệu (mỹ thuật), Tùng Giang, Hà Anh Tuấn (nhiếp ảnh)…

Trở về từ Lai Châu, buổi sáng tôi ngắm từng cặp buồm đỏ trên vịnh Hạ Long nhớ đỉnh núi Sin Suối Hồ buổi chiều mây trắng từ lưng núi cuộn lên. Khi nhìn núi Bài Thơ tôi nghĩ tới bài thơ Lê Thái Tổ khắc trên vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ sông Đà, nay thành bia thờ gần đó và “hòn Đá trắng - thủ lĩnh của núi rừng nơi biên cương”. Trước muôn trùng đảo đá vịnh Hạ Long gợi lên trong tôi những “người giống - thầy giáo”, “bác sĩ Chu Pó Xá - Xá Pì Lì”, “Thu Lũm - nơi người dân vui vẻ, hạnh phúc, nơi vùng đất hình rồng”…

Mở báo văn nghệ Hạ Long số mới tôi ngỡ ngàng với bài viết của Trần Mai Lan về tác phẩm của tác giả Lai Châu: “Dấu ấn cảm xúc trong tập truyện Gió ngang qua mùa nắng của Đào Thanh Tám”. Tôi hình dung những kết nối nảy nở giữa các vùng quê hương, những vận động trên rừng xuống biển và ngược lại, đang được mở ra cho những cơ hội niềm vui trên đỉnh dốc các cung đường Tây Bắc - Lai Châu hôm nay.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Dự án Kính thực tế ảo SignSound ứng dụng công nghệ 4.0 hỗ trợ người khiếm thính của nhóm sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng. Ảnh: ĐHĐN.

Thay đổi cách học ở đại học

GD&TĐ - Học qua nghiên cứu, thực hành, giải quyết vấn đề thực tế mở ra cách tiếp cận mới, giúp SV làm chủ tri thức, sẵn sàng với yêu cầu nghề nghiệp.