Ngày 24/9, Học viện Quản lý giáo dục tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW”.
Tọa đàm tập trung làm rõ yêu cầu đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào chiều sâu, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và năng lực quản trị giáo dục.
Gắn khoa học công nghệ với chất lượng đào tạo
Phát biểu khai mạc, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hằng - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Quản lý giáo dục - cho biết, tọa đàm là hoạt động khoa học được Học viện tổ chức định kỳ hàng tháng, hàng quý, do Viện Nghiên cứu Khoa học và Quản lý Giáo dục chủ trì, nhằm thúc đẩy trao đổi học thuật và đề xuất giải pháp thiết thực cho sự phát triển của Học viện.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hằng, phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo, công nghệ và chuyển đổi số cần gắn trực tiếp với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và năng lực nghiên cứu về quản lý giáo dục. Học viện cần thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động khoa học công nghệ và chuyển đổi số theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trung ương, Chính phủ và Bộ GD&ĐT.
Trong bối cảnh sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học, Học viện xác định cần chung tay góp sức để khẳng định vị thế, lan tỏa hình ảnh và phát triển. Yêu cầu đặt ra là xây dựng cơ chế, hệ sinh thái mới để thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyển đổi số thực chất, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
TS Nguyễn Thị Hương - Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Quản lý giáo dục - cho rằng, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý, quản trị và cung cấp dịch vụ giáo dục.
Vì vậy, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục phải đổi mới đồng bộ nội dung chương trình, phương thức tổ chức, quản trị dữ liệu và nghiên cứu phục vụ chính sách.
Từ kinh nghiệm của Học viện Quản lý giáo dục Quốc gia Trung Quốc (NAEA), TS Nguyễn Thị Hương cho rằng, có thể tham khảo mô hình kết hợp đào tạo trực tiếp với trực tuyến, xây dựng hệ sinh thái nền tảng số theo nhóm đối tượng, gắn nghiên cứu với bồi dưỡng và hoạch định chính sách; đồng thời huy động mạng lưới chuyên gia và tăng cường liên kết với cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục, địa phương.
Theo TS Nguyễn Thị Hương, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể chỉ dựa vào một dự án công nghệ đơn lẻ. Điều quan trọng là kết hợp định vị chiến lược, nền tảng số, đổi mới chương trình, phát triển đội ngũ, nghiên cứu phục vụ chính sách và mạng lưới hợp tác thực tiễn.
Đối với Học viện Quản lý giáo dục, cần lựa chọn những nguyên tắc phù hợp với chức năng, nguồn lực và bối cảnh trong nước. Trọng tâm là xây dựng hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, tư vấn và chuyển giao dựa trên dữ liệu; phát triển năng lực số cho đội ngũ; tổ chức chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm; tăng cường liên kết với cơ quan quản lý, địa phương và cơ sở giáo dục.
Đại học phải tạo ra năng lực phát triển
Từ yêu cầu chuyển hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo từ phong trào sang sản phẩm thực chất, PGS.TS Lưu Bích Ngọc - Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực – nhấn mạnh, đại học đang chuyển từ nơi chủ yếu truyền thụ tri thức thành thiết chế tạo ra năng lực phát triển cho quốc gia và địa phương.
Đổi mới sáng tạo không nên được xem như một “sứ mạng thứ tư” tách rời, mà là cơ chế tích hợp đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng thành những tác động cụ thể về con người, công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội.
Định hướng này gắn với yêu cầu của Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW. Theo PGS.TS Lưu Bích Ngọc, hệ thống đại học cần được phân tầng theo sứ mạng, thay vì đồng nhất hóa hoặc đặt mọi cơ sở đào tạo vào cùng một “đường đua”.
Theo đề xuất, hệ thống có thể phân thành 5 nhóm: đại học quốc gia - đại học tinh hoa, đại học vùng, đại học trọng điểm/đa ngành trọng điểm, trường đại học trực thuộc bộ/ngành và trường đại học trực thuộc tỉnh.
Mỗi nhóm đảm nhận một vai trò đổi mới sáng tạo khác nhau, từ mở rộng biên tri thức, nghiên cứu đỉnh cao đến giải quyết các bài toán phát triển vùng, ngành và địa phương.
Cùng với phân tầng sứ mạng là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo mô hình Quadruple Helix, kết nối Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp - Xã hội/Cộng đồng; đồng thời quản trị toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo, nhất là các khâu sở hữu trí tuệ, ươm tạo, thương mại hóa và tạo giá trị thực tiễn.
Cho rằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trước hết đòi hỏi ý chí, quyết tâm từ cấp lãnh đạo cao nhất của nhà trường và động lực tự thân của đội ngũ, GS.TS. Phạm Quang Trung - Chủ tịch Hội đồng Khoa học, nguyên Giám đốc Học viện Quản lý giáo dục – trao đổi, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cần khai thác tối đa sức mạnh của Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71; tùy từng lĩnh vực tìm hướng đi tắt, đón đầu, đồng thời mạnh dạn đầu tư lớn cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mang tính chiến lược.
GS.TS. Phạm Quang Trung đề xuất đổi mới, cởi mở hơn trong cơ chế quản lý khoa học công nghệ để giải phóng sức sáng tạo của đội ngũ. Cần có cơ chế cho phép nghiên cứu mạo hiểm, chấp nhận nghiên cứu thất bại, trong đó có thể tính đến mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital).
Cùng với đó là cơ chế khuyến khích sáng tạo, đặc biệt đối với thế hệ trẻ; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu thông qua gắn kết nhà trường với doanh nghiệp; mở rộng cơ chế “tự chủ thật sự” đối với các trường đại học, học viện.
Đối với Học viện Quản lý giáo dục, PGS.TS Lưu Bích Ngọc gợi mở cần trở thành Trung tâm quốc gia về tri thức, đổi mới và phát triển năng lực lãnh đạo - quản trị giáo dục, tập trung vào đào tạo đội ngũ quản lý; nghiên cứu, tư vấn chính sách; phát triển công cụ quản trị số; ứng dụng AI có trách nhiệm trong giáo dục.