Có những ngôi mộ lúc nào cũng đỏ lửa hương. Có những nghĩa trang mỗi dịp tháng Bảy lại đông kín người thân tìm về. Nhưng cũng có những bàn thờ mà suốt hơn nửa thế kỷ qua, con cháu chỉ biết cúi đầu trước một tấm Bằng "Tổ quốc ghi công", bởi người nằm xuống vẫn chưa một lần được trở về.
Ở Hà Tĩnh, trong danh sách những nhà giáo đã gác phấn trắng lên đường bảo vệ Tổ quốc, vẫn còn nhiều liệt sĩ chưa xác định được nơi an nghỉ. Họ từng là những người thầy đứng trên bục giảng, mang con chữ đến với học trò vùng quê nghèo. Khi đất nước cần, họ khoác ba lô ra trận. Và rồi, giữa những cánh rừng, những chiến trường khốc liệt của miền Nam, nhiều người đã mãi mãi nằm lại.
Hơn 50 năm sau ngày đất nước thống nhất, cuộc chiến đã lùi xa, nhưng hành trình đi tìm các thầy vẫn chưa dừng lại.
Gác phấn trắng giữa mùa bom đạn
Trong căn nhà nhỏ ở xã Sơn Giang (Hà Tĩnh), trên bàn thờ liệt sĩ Phạm Đình Cầu, khói hương vẫn nghi ngút mỗi ngày. Điều khiến người đến viếng chạnh lòng là hơn nửa thế kỷ qua, nơi ấy vẫn chỉ có di ảnh và tấm Bằng "Tổ quốc ghi công", bởi phần mộ của người thầy năm xưa vẫn chưa được tìm thấy.
Sinh năm 1940 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, Phạm Đình Cầu sớm nổi tiếng là người thông minh, học giỏi và giàu lòng nhân ái. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành giáo viên Trường Cấp I Sơn Diệm.
Những năm đầu thập niên 1960, giữa điều kiện dạy học còn nhiều thiếu thốn, người thầy trẻ vẫn miệt mài với bảng đen, viên phấn, được đồng nghiệp quý trọng, học trò yêu mến. Thành tích nổi bật trong phong trào "Hai tốt" giúp ông được ngành Giáo dục biểu dương, đồng thời được kết nạp Đảng khi tuổi đời còn rất trẻ.
Thế nhưng, bục giảng không giữ được bước chân của người thanh niên đang mang trong mình khát vọng cống hiến.
Tháng 8/1965, giữa lúc chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt, thầy giáo Phạm Đình Cầu tình nguyện nhập ngũ. Với phẩm chất chính trị và trình độ nổi bật, ông được tuyển chọn vào lực lượng cơ yếu - một vị trí đặc biệt đòi hỏi sự tuyệt đối trung thành, bản lĩnh và bí mật. Khi ấy, cả huyện Hương Sơn chỉ có duy nhất ông được lựa chọn.
Ngày người thầy rời quê, không ai nghĩ đó cũng là lần cuối cùng. Những lá thư từ chiến trường vẫn đều đặn gửi về, báo tin ông vẫn khỏe mạnh. Gia đình yên tâm chờ ngày đoàn tụ.
Rồi thư bỗng ngừng, không một dòng tin tức, không ai dám nghĩ đến điều xấu nhất.
Mãi đến năm 1972, sau 4 năm ngày ông ngã xuống trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại vùng đất thép Củ Chi, gia đình mới nhận được giấy báo tử. Tin dữ đến muộn như nhát dao cứa thêm vào nỗi đau vốn đã âm ỉ suốt nhiều năm chờ đợi.
Người vợ trẻ Nguyễn Thị Bân khi ấy lặng người. Hai đứa con còn thơ dại chưa kịp hiểu thế nào là mất cha. Từ đó, bà ở vậy nuôi con khôn lớn.
Hết chuyến này đến chuyến khác, bà cùng các con lặn lội khắp nhiều chiến trường phía Nam dò hỏi đồng đội, tìm kiếm thông tin. Nhưng sau hàng chục năm, nơi người thầy nằm lại vẫn là khoảng trống chưa thể lấp đầy.
Điều khiến câu chuyện về thầy Phạm Đình Cầu càng trở nên đặc biệt là phía sau ông còn có một gia đình mà sự hy sinh gần như trở thành số phận.
Mẹ ông (bà Nguyễn Thị Trạch) được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Trong số những người con của bà, ba người đã hy sinh vì Tổ quốc. Riêng người con út mất khi đang làm nhiệm vụ quốc tế tại nước bạn Lào. Cả cuộc đời người mẹ là những lần tiễn con đi trong nước mắt. Có lẽ, với gia đình ấy, chiến tranh chưa bao giờ thực sự khép lại.
Người em gần 90 tuổi vẫn kể chuyện về anh như mới hôm qua
Ở xã Cẩm Trung (Hà Tĩnh), mỗi lần có ai nhắc đến liệt sĩ, nhà giáo Nguyễn Tường Bùi, người em trai là thầy giáo nghỉ hưu Nguyễn Trường Biều (90 tuổi) lại chậm rãi ngồi xuống, rót ấm trà nóng rồi bắt đầu câu chuyện về người anh đã hy sinh cách đây gần 6 thập kỷ.
Năm tháng đã lấy đi mái tóc đen, làm đôi mắt người thầy già mờ đục. Nhưng ký ức về người anh trai năm nào vẫn nguyên vẹn. Đó là những ký ức bắt đầu từ một trận bom.
Năm 1966, máy bay Mỹ đánh phá dữ dội miền Bắc. Ngôi nhà của gia đình ông Biều bị bom san phẳng. Cả gia đình may mắn thoát chết trong gang tấc sau khi chui xuống hầm trú ẩn. Khi khói bom còn chưa tan, người mẹ chỉ kịp dặn con trai đang ở nhà viết vài dòng gửi vào chiến trường cho người anh.
"Con hãy báo cho anh Bùi biết cả nhà vẫn bình yên để nó yên tâm đánh giặc...". Ít lâu sau, từ chiến trường xa xôi, một lá thư được gửi về. Đó là lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng.
Nhắc đến đây, người thầy giáo già lặng đi. Ông đứng dậy, chậm rãi thắp một nén nhang trước bàn thờ gia tiên. Bên cạnh di ảnh là tấm Bằng "Tổ quốc ghi công" đã ngả màu theo thời gian. Đó gần như là "địa chỉ" duy nhất để người thân tìm về với người đã khuất.
Sinh năm 1941, Nguyễn Tường Bùi lớn lên trong một gia đình hiếu học ở Cẩm Trung. Sau khi tốt nghiệp sư phạm, ông được phân công giảng dạy tại Trường cấp I Kỳ Bắc, rồi chuyển về Trường cấp I Kỳ Tiến. Những năm đứng lớp cũng là giai đoạn chiến tranh ngày càng ác liệt. Tiếng máy bay, tiếng bom trở thành âm thanh quen thuộc trên những vùng quê Hà Tĩnh.
Rồi cũng như bao thầy giáo cùng thời, ông gác lại bảng đen, phấn trắng. Ngày chia tay, người mẹ tiễn con dưới cơn mưa đầu hạ. Bà không khóc, chỉ căn dặn một câu giản dị: "Con nhớ lời thầy dạy, đừng phụ lòng mọi người...".
Hoàn thành khóa huấn luyện ở Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị), người thầy trẻ hành quân vào chiến trường Tây Nguyên rồi tiếp tục tham gia chiến đấu ở mặt trận phía Nam.
Trong lá thư gửi về, ông kể về núi rừng đại ngàn, về vẻ đẹp của đất nước mà trước đó chỉ được biết qua những trang giáo án. Nhưng càng về sau, thư từ càng thưa dần. Có thời điểm gần hai năm, gia đình hoàn toàn bặt tin.
Mỗi chiều, mẹ ông lại lặng lẽ ra bờ sông Rác, đứng nhìn về phía Nam như mong một cánh thư hay một bóng người trở về. Niềm hy vọng ấy chỉ khép lại khi cán bộ địa phương mang tờ giấy báo tử đến tận nhà khiến người mẹ ngã quỵ… và căn nhà nhỏ chìm trong tiếng khóc.
Biết bao gia đình thời chiến cũng đón nhận tin dữ theo cách ấy: Người thân "trở về" chỉ bằng một tờ giấy báo tử.
Theo lời những đồng đội cũ mà gia đình gặp lại sau này, trong chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị của Nguyễn Tường Bùi chiến đấu tại khu vực cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn.
Ông cùng ba đồng đội hy sinh trong một trận đánh ác liệt ở Gò Vấp. Giữa mưa bom, đồng đội chỉ kịp mai táng tạm trên một gò đất cao, đánh dấu vị trí rồi tiếp tục chiến đấu.
Chiến tranh kết thúc, địa hình thay đổi, dấu tích năm xưa gần như không còn. Hành trình tìm lại nơi an nghỉ của người thầy vì thế cũng mờ dần theo năm tháng.
Không chỉ gia đình liệt sĩ Phạm Đình Cầu hay Nguyễn Tường Bùi, theo thống kê bước đầu của Hội Cựu giáo chức Hà Tĩnh, vẫn còn 55 nhà giáo ở Hà Tĩnh đã hy sinh trên các chiến trường nhưng đến nay chưa xác định được chính xác nơi an nghỉ. Mỗi cái tên là một số phận, một gia đình và một hành trình tìm kiếm kéo dài qua nhiều thế hệ.
Nhà giáo Trần Hữu Doãn, Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Hà Tĩnh cho biết, Hội đang tiếp tục rà soát hồ sơ, thu thập ký ức của thân nhân, đồng đội, cựu giáo chức và phối hợp với các cơ quan chức năng để bổ sung thông tin về những nhà giáo liệt sĩ còn chưa tìm thấy hài cốt.
"Mỗi thông tin, dù rất nhỏ, đều có thể mở ra một hy vọng. Chúng tôi mong muốn kết nối được nhiều nguồn tư liệu hơn, để hành trình tìm kiếm những người thầy đã hy sinh không chỉ là nỗ lực của từng gia đình mà trở thành trách nhiệm chung của xã hội", ông Doãn chia sẻ.
(Còn nữa).
Đến ngày 21/7/2026, trong khuôn khổ "Chiến dịch 500 ngày đêm", Hà Tĩnh đã khai quật, số hóa thông tin 710/774 phần mộ liệt sĩ, thu được 260 mẫu sinh phẩm ADN phục vụ công tác xác định danh tính. Các nghĩa trang đã hoàn thành việc khai quật, số hóa gồm: Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ, Hương Khê và Nghĩa trang Liệt sĩ Nầm (xã Tứ Mỹ). Còn 64 phần mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Núi Nài (phường Thành Sen) và Nghĩa trang Liệt sĩ Kỳ Anh (xã Kỳ Khang) sẽ được triển khai sau ngày 27/7, phấn đấu hoàn thành trước 5/8/2026.
Theo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Tĩnh, đến nay địa phương cũng đã tìm kiếm, quy tập 834 hài cốt liệt sĩ tại nước bạn Lào, góp phần thực hiện hiệu quả công tác tri ân và xác định danh tính liệt sĩ còn thiếu thông tin.