Sau sáp nhập, xã Ea Kly có hơn 40.000 dân, nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống, sinh kế chủ yếu gắn với nông nghiệp. Năm 2026, địa phương triển khai Tiểu dự án 3 về phát triển giáo dục nghề nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, thuộc Dự án 5 về phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Làm thế nào để đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu phát triển địa phương, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân? Báo GD&TĐ có buổi trao đổi với ông Nguyễn Văn Hoan, Bí thư Đảng ủy xã Ea Kly và ông Nguyễn Văn Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Ea Kly.
Lấy thu nhập của người dân làm thước đo hiệu quả chính sách
PV: Thưa ông, Ea Kly sau sáp nhập đặt ra nhiệm vụ gì đối với việc nâng chất lượng nguồn nhân lực, nhất là lao động người dân tộc thiểu số?
Ông Nguyễn Văn Hoan, Bí thư Đảng uỷ xã Ea Kly: Sau khi sáp nhập, xã Ea Kly bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô dân số trên 40.000 người, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 31%, cùng không gian địa lý và dư địa kinh tế mở rộng. Để biến tiềm năng thành động lực phát triển thực tế, nhiệm vụ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - đặc biệt là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số - được xác định là giải pháp đột phá trọng tâm. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Nghị quyết 49-NQ/ĐU của Đảng uỷ về phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 đã xác định các nhiệm vụ này với các nội dung cụ thể:
Chuyển đổi tư duy từ “Sản xuất nông nghiệp” sang “Kinh tế nông nghiệp”. Người dân có kinh nghiệm canh tác truyền thống phong phú, nhưng trước yêu cầu phát triển hiện đại, đào tạo nghề phải giúp bà con chuyển mạnh sang tư duy quản trị: làm chủ kỹ thuật canh tác VietGAP/GlobalGAP, kiểm soát chi phí đầu vào, ứng dụng công nghệ tiết kiệm (tưới tự động, bón phân sinh học,…), đáp ứng tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm chủ lực (sầu riêng, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả).
Phân tầng và đa dạng hóa kỹ năng theo nhu cầu việc làm. Về nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ phụ trợ, chú trọng đào tạo kỹ thuật chăm sóc, phục hồi vườn cây, quản lý dịch hại, vận hành máy móc nông nghiệp; về chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nghề phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sơ chế - chế biến nông sản, kinh doanh dịch vụ, thương mại điện tử cho lực lượng lao động trẻ.
Tạo sinh kế bền vững và giảm nghèo đa chiều cho lao động DTTS. Nâng cao chất lượng lao động vùng DTTS không chỉ dừng lại ở việc dạy một kỹ năng cụ thể, mà là giải pháp căn cơ để mở rộng cơ hội việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, nâng cao năng lực tự vươn lên thoát nghèo bền vững và chủ động tham gia vào chuỗi liên kết giá trị của địa phương.
PV: Đảng ủy xã định hướng và phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở như thế nào để chính sách đào tạo nghề được triển khai phù hợp từng địa bàn, nhóm lao động?
Ông Nguyễn Văn Hoan: Đảng uỷ tiếp tục cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp thành nghị quyết, kế hoạch chuyên đề thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia, trong đó có chú trọng phát triển nguồn nhân lực; xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu đào tạo nghề gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đặc biệt là Nghị quyết chuyên đề của Đảng uỷ sắp tới về xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao.
Từ đó, yêu cầu UBND cụ thể hóa thành kế hoạch hành động chi tiết; chủ động khảo sát, phân loại nhu cầu học nghề; phân công rõ trách nhiệm cho từng ngành, công chức chuyên môn; chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm để "đào tạo theo địa chỉ".
Phát huy vai trò cầu nối của Chi bộ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở thôn, buôn, nắm bắt nhu cầu thực chất từ cơ sở, xu hướng nghề nghiệp phù hợp với phát triển của địa phương, tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS đổi mới tư duy, xóa bỏ tâm lý tự ti, ngại học nghề, từ đó tích cực, chủ động tham gia; đồng thời xây dựng dữ liệu số hóa về lao động - việc làm cấp xã để quản lý, theo dõi chính xác nhu cầu và biến động nghề nghiệp của từng hộ dân.
PV: Trong kiểm tra, giám sát, Đảng ủy xã đặt trọng tâm vào đâu để nguồn lực đào tạo nghề mang lại kết quả thiết thực và những hạn chế được khắc phục kịp thời?
Ông Nguyễn Văn Hoan: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy xã được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ, lấy kết quả thực tế nâng cao thu nhập của người dân làm thước đo cao nhất đối với hiệu quả của chính sách.
Trọng tâm kiểm tra, giám sát gồm Kiểm tra tính đúng đắn của đối tượng và công khai nguồn lực: Bảo đảm chính sách đào tạo nghề, nguồn vốn hỗ trợ thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia đến đúng đối tượng thụ hưởng (ưu tiên hộ DTTS nghèo, cận nghèo, lao động yếu thế); công khai, minh bạch tài chính và mục tiêu dự án.
Giám sát chất lượng và nội dung đào tạo: Đánh giá chương trình dạy nghề có bám sát điều kiện thổ nhưỡng, mùa vụ và nhu cầu thực tế của địa phương hay không; kiểm tra thực lượng thời gian thực hành so với lý thuyết.
Giám sát hiệu quả sau đào tạo, như theo dõi tỷ lệ áp dụng kỹ thuật mới vào vườn cây qua từng mùa vụ, mức độ giảm chi phí phân bón/thuốc bảo vệ thực vật và mức tăng năng suất, chất lượng nông sản; đánh giá tỷ lệ lao động có việc làm mới, khả năng tự tạo việc làm hoặc thành lập các nhóm/tổ hợp tác dịch vụ tại địa bàn.
Khi kết quả đào tạo chưa đạt mục tiêu, Đảng ủy chỉ đạo phân tích rõ nguyên nhân, để xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan; chỉ đạo UBND xã và các bộ phận chuyên môn đưa ra giải pháp sửa chữa cụ thể kèm thời gian hoàn thành; đối với những bất cập về cơ chế, chính sách vượt thẩm quyền, Đảng ủy kịp thời tổng hợp để kiến nghị lên cấp trên. Kết quả khắc phục được lấy làm căn cứ đánh giá xếp loại thi đua của các tổ chức Đảng và cán bộ, công chức hàng năm.
Đào tạo gắn với sản xuất và thị trường
PV: Thưa ông, vì sao Ea Kly lựa chọn đào tạo các nghề liên quan đến cà phê, sầu riêng và trang điểm thẩm mỹ? Địa phương đặt ra yêu cầu gì về chất lượng và khả năng sử dụng nghề của học viên?
Ông Nguyễn Văn Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Ea Kly: Cà phê, sầu riêng gắn với hoạt động sản xuất của người dân. Học các nghề này giúp bà con đối chiếu kiến thức với cách chăm sóc vườn cây của gia đình, biết khâu nào cần thay đổi để thực hiện đúng kỹ thuật và sử dụng vật tư hợp lý hơn.
Hiện có hơn 120 học viên đã hoàn thành và đang học các lớp nghề. Yêu cầu về chất lượng phải được cụ thể hóa theo từng nhóm nghề. Với cây trồng, học viên cần biết nhận diện tình trạng cây, chăm sóc đúng giai đoạn, sử dụng vật tư hợp lý và tính toán chi phí. Với trang điểm, cần chú trọng thao tác thực hành, vệ sinh và kỹ năng phục vụ khách hàng.
Việc đánh giá cần gắn với khả năng thực hiện công việc. Sau đào tạo, cần tiếp tục nắm tình hình sử dụng nghề để có căn cứ đánh giá hiệu quả và điều chỉnh những khóa tiếp theo.
PV: UBND xã định hướng kết nối đào tạo với đơn vị chuyên môn, hợp tác xã, doanh nghiệp như thế nào để nâng hiệu quả sản xuất và mở cơ hội việc làm cho người học?
Ông Nguyễn Văn Nam: Địa phương đã tổ chức hướng dẫn người trồng sầu riêng ghi nhật ký canh tác, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc; đồng thời trao đổi bước đầu với doanh nghiệp về phát triển chuỗi giá trị cà phê. Từ những hoạt động này, nội dung đào tạo cần được cập nhật theo yêu cầu kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn của thị trường.
Hướng phối hợp là để đơn vị đào tạo tiếp cận nhu cầu sản xuất, tiêu chuẩn sản phẩm của hợp tác xã, doanh nghiệp; cơ quan chuyên môn hỗ trợ giải đáp những vấn đề kỹ thuật phát sinh khi người dân vận dụng. Các nội dung liên kết cần làm rõ điều kiện tham gia, trách nhiệm các bên và lợi ích của người sản xuất.
Với nghề dịch vụ, phải tính đến nhu cầu khách hàng, chi phí dụng cụ và quy mô hành nghề phù hợp. Việc mở thêm lớp cần dựa trên khảo sát thị trường, nhu cầu người học và kết quả các khóa đã triển khai, bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả.
PV: Xin trân trọng cảm ơn!