Đưa nghiên cứu khoa học vào thực tiễn: Bắt mạch điểm nghẽn

GD&TĐ - Số lượng đề tài nghiên cứu ngày càng tăng, nhưng khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thực tiễn vẫn còn lớn.

Sinh viên Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NTCC
Sinh viên Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NTCC

Theo các chuyên gia, cần gỡ những điểm nghẽn trong chuyển giao và thương mại hóa để khoa học phát huy giá trị.

Những rào cản nghiên cứu ứng dụng

PGS.TS Ngô Tứ Thành - Viện Công nghệ thông tin, Học viện Phụ nữ Việt Nam nhận định, những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện qua số lượng bài báo quốc tế, đề tài và công bố khoa học đều tăng. Tuy nhiên, khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn vẫn còn lớn do ba “điểm nghẽn” cần sớm tháo gỡ.

Theo ông, điểm nghẽn đầu tiên là nhiều nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Không ít đề tài được hình thành theo hướng “từ những gì nhà nghiên cứu có” thay vì “từ những gì xã hội cần”. Doanh nghiệp, địa phương và đơn vị sử dụng kết quả nghiên cứu tham gia rất hạn chế, khiến nhiều công trình có giá trị học thuật nhưng thiếu tính ứng dụng, chưa giải quyết được các bài toán của sản xuất, quản lý và đời sống.

Điểm nghẽn thứ hai là thiếu cơ chế kết nối giữa trường đại học và doanh nghiệp. Ở nhiều quốc gia phát triển, trường đại học, doanh nghiệp và Nhà nước tạo thành “tam giác đổi mới sáng tạo”, trong đó doanh nghiệp vừa đặt hàng, vừa tham gia thử nghiệm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trong khi đó, tại Việt Nam, mối liên kết này vẫn còn lỏng lẻo; sau nghiệm thu, rất ít cơ chế hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm quy mô lớn hay kết nối với nhà đầu tư.

Điểm nghẽn thứ ba là cơ chế đánh giá nghiên cứu còn thiên về số lượng hơn chất lượng và tác động. Hoạt động nghiên cứu chủ yếu được đánh giá qua số lượng đề tài, bài báo, công bố hoặc chỉ số trích dẫn, trong khi những kết quả mang lại giá trị kinh tế, xã hội cho doanh nghiệp lại chưa được ghi nhận tương xứng.

Cũng chỉ ra ba rào cản lớn, PGS.TS Nguyễn Thanh Chương - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải cho rằng, nhiều đề tài cấp bộ, cấp tỉnh vẫn chủ yếu dừng ở báo cáo hoặc công bố khoa học, chưa hình thành sản phẩm có khả năng ứng dụng rộng rãi. Doanh nghiệp và cơ quan quản lý cũng chưa thực sự tham gia đặt hàng nghiên cứu từ nhu cầu thực tế, trong khi kinh phí và thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế, khiến nhiều nghiên cứu khó bám sát thực tiễn và hoàn thiện công nghệ để thương mại hóa.

Ở góc độ khác, ông Nguyễn Thế Lực - Viện trưởng Viện Khoa học, Công nghệ và Giáo dục Việt Nam cho rằng, nhiều kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng hiệu quả không phải do năng lực nghiên cứu hạn chế mà chủ yếu vì thiếu sự gắn kết với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thị trường. Theo ông, nhiều đề tài chưa xuất phát từ bài toán thực tiễn của doanh nghiệp, liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý còn lỏng lẻo, năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn yếu.

Bên cạnh đó, nguồn lực cho nghiên cứu ứng dụng còn phân tán; quy trình quản lý, thanh quyết toán và nghiệm thu vẫn nặng về kiểm soát hành chính hơn là đánh giá hiệu quả đầu ra. Cơ chế phân chia lợi ích từ chuyển giao công nghệ chưa đủ tạo động lực cho các bên, trong khi hệ thống đánh giá nghiên cứu vẫn thiên về số lượng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa thực sự hoàn thiện.

bat-mach-diem-nghen-1.jpg
Ảnh minh họa ITN.

Tri thức tạo giá trị thực tiễn

Đề xuất giải pháp, PGS.TS Ngô Tứ Thành cho rằng, để khắc phục tình trạng nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, cần chuyển mạnh từ mô hình “nghiên cứu theo định hướng của nhà trường” sang “nghiên cứu theo đặt hàng của xã hội”. Chỉ khi đề tài được hình thành từ những vấn đề của doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng, kết quả nghiên cứu mới có cơ hội được ứng dụng và phát huy giá trị.

Đối với điểm nghẽn trong kết nối giữa trường đại học và doanh nghiệp, ông đề xuất xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngay trong các cơ sở giáo dục đại học, gồm trung tâm chuyển giao công nghệ, văn phòng sở hữu trí tuệ, quỹ hỗ trợ thương mại hóa và mạng lưới kết nối doanh nghiệp. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia đặt hàng, tài trợ và tiếp nhận kết quả nghiên cứu. Khi doanh nghiệp trở thành chủ thể của quá trình nghiên cứu, khả năng thương mại hóa và ứng dụng kết quả sẽ được nâng lên đáng kể.

Về cơ chế đánh giá, PGS.TS Ngô Tứ Thành cho rằng cần cân bằng giữa chất lượng học thuật và giá trị ứng dụng. Bên cạnh các công bố khoa học, cần coi số bằng sáng chế, hợp đồng chuyển giao công nghệ, doanh thu từ thương mại hóa và tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội là những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học.

Cùng bàn về giải pháp, TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm Khoa Công nghệ giáo dục, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn là quá trình phức tạp, chịu tác động của nhiều rào cản về hệ thống, cơ chế và văn hóa.

Theo TS Tôn Quang Cường, để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, cần đổi mới đồng bộ cách định hướng nghiên cứu, đánh giá thành tích, xây dựng cơ chế chuyển giao tri thức và tăng cường liên kết giữa trường đại học với doanh nghiệp cùng các bên liên quan. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy văn hóa “học giả gắn kết”, đầu tư hạ tầng chuyển giao công nghệ và đa dạng hóa các mô hình tài trợ nghiên cứu nhằm tối đa hóa giá trị của tri thức khoa học, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khoa học - công nghệ phát triển nhanh, các trường đại học ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tạo ra tri thức mới. Tuy nhiên, nhiều năm qua vẫn tồn tại một thách thức lớn là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng vào thực tiễn. Hiện tượng này, thường được gọi là “khoảng cách nghiên cứu - thực tiễn” hay “chuyển giao tri thức”, không chỉ làm giảm giá trị của các công trình khoa học, gây lãng phí nguồn lực mà còn hạn chế đóng góp của nghiên cứu đối với phát triển kinh tế - xã hội. - TS TÔN QUANG CƯỜNG

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ