Minh bạch để nâng cao trách nhiệm
Việc Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học (Thông tư 83) là bước đi đáng chú ý trong hoàn thiện công cụ quản lý chất lượng giáo dục đại học. Theo PGS.TS Trần Xuân Nhĩ – nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, điểm quan trọng của Thông tư 83 không chỉ nằm ở việc xác lập các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số đánh giá, mà còn ở yêu cầu các cơ sở đào tạo phải công khai điều kiện bảo đảm chất lượng và chịu trách nhiệm về dữ liệu, kết quả hoạt động của mình.
Thông tư quy định 6 tiêu chuẩn gồm: tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất; tài chính; tuyển sinh và đào tạo; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, với 19 tiêu chí cụ thể. Đồng thời, bổ sung các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Pháp luật và lĩnh vực Sức khỏe.
Các nhóm tiêu chuẩn bao quát nhiều mặt trong hoạt động của một cơ sở giáo dục đại học. Điều này cho thấy chất lượng không thể chỉ được nhìn nhận qua quy mô tuyển sinh, số lượng chương trình đào tạo hay kết quả nghiên cứu riêng lẻ. Chất lượng còn phụ thuộc vào năng lực quản trị, đội ngũ giảng viên, nguồn lực tài chính, điều kiện học tập và khả năng tổ chức đào tạo.
Khi các điều kiện bảo đảm chất lượng được đánh giá theo một khung chuẩn thống nhất, cơ sở đào tạo có thêm căn cứ để nhận diện điểm mạnh, hạn chế và xây dựng kế hoạch cải thiện. Cơ quan quản lý cũng có thêm thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước; người học và xã hội có cơ sở tham khảo khi tìm hiểu, lựa chọn cơ sở giáo dục đại học.
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Xuân Nhĩ cho rằng, minh bạch chỉ thực sự có ý nghĩa khi thông tin được công bố phản ánh đúng thực trạng. Vì vậy, yêu cầu trung thực trong kê khai dữ liệu là yếu tố then chốt. Theo Thông tư 83, cơ sở đào tạo kê khai không trung thực hoặc giả mạo dữ liệu sẽ bị đánh giá không đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học và bị xử lý theo quy định pháp luật. Quy định này góp phần đề cao trách nhiệm của cơ sở đào tạo đối với những thông tin được sử dụng để đánh giá chất lượng.
Tránh đánh giá hình thức
Một điểm đáng chú ý là cơ sở đào tạo chỉ được xác định đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học khi tất cả tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số thuộc phạm vi áp dụng đều đạt yêu cầu. Những nội dung có lộ trình nhưng chưa đến thời điểm áp dụng chưa bị xem là chưa đạt khi xét điều kiện đáp ứng chuẩn.
Theo TS Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương TP Hồ Chí Minh, cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu các trường không thể chỉ tập trung vào một vài chỉ số nổi bật, mà cần quan tâm đồng bộ đến các điều kiện bảo đảm chất lượng. Đồng thời, việc quy định lộ trình áp dụng giúp cơ sở đào tạo có thời gian chuẩn bị nguồn lực, điều chỉnh kế hoạch và hoàn thiện các điều kiện cần thiết.
Theo quy định, các cơ sở đào tạo thực hiện tự đánh giá hằng năm trên cơ sở dữ liệu đã cập nhật. Vì vậy, tự đánh giá cần được xem là một phần của hoạt động quản trị thường xuyên, không phải nhiệm vụ chỉ thực hiện khi đến kỳ báo cáo hoặc phục vụ kiểm tra. Kết quả đánh giá phải giúp nhà trường xác định rõ vấn đề cần khắc phục, trách nhiệm của từng đơn vị và giải pháp cải thiện trong giai đoạn tiếp theo.
Điều quan trọng là không đồng nhất việc đạt chuẩn với chất lượng đào tạo đã hoàn hảo. Bộ chuẩn cung cấp căn cứ đánh giá những điều kiện và chỉ số được quy định; chất lượng thực tế còn cần được nhìn nhận qua hiệu quả đào tạo, năng lực của người học sau tốt nghiệp và mức độ đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Khi được triển khai nghiêm túc, Thông tư 83 có thể góp phần hình thành văn hóa chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học, trong đó minh bạch dữ liệu, tự đánh giá và cải tiến liên tục trở thành yêu cầu thường xuyên. Giá trị cuối cùng của bộ chuẩn không nằm ở việc các trường có thể công bố mình đạt bao nhiêu tiêu chí, mà ở những chuyển biến thực chất trong quản trị, giảng dạy, nghiên cứu và môi trường học tập.
Qua nghiên cứu, ông Lê Tuấn Tứ - đại biểu Quốc hội khóa XIV nhìn nhận, việc xây dựng Thông tư 83 nhằm thực hiện các quy định của Luật Giáo dục đại học năm 2025, đồng thời tiếp tục đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học theo hướng tăng cường tự chủ, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Điểm cốt lõi của Thông tư là chuyển từ cách tiếp cận quản lý dựa nhiều vào kiểm soát điều kiện đầu vào và quy trình thực hiện sang giám sát chất lượng, hiệu quả hoạt động và kết quả đầu ra của cơ sở giáo dục đại học. Qua đó, tạo động lực để các trường chủ động nâng cao chất lượng, tự cải tiến liên tục và phát huy đầy đủ quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình trước người học và xã hội.
Một trong những điểm mới nổi bật của Thông tư 83 là tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu, thay cho phương thức quản lý chủ yếu dựa vào báo cáo hành chính như trước đây. Theo đó, dữ liệu về người học, đội ngũ giảng viên, điều kiện bảo đảm chất lượng và kết quả hoạt động của cơ sở giáo dục đại học được cập nhật, kết nối và đồng bộ trên Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS).
Các tiêu chuẩn, tiêu chí được xây dựng theo hướng tăng tính định lượng, bảo đảm sự thống nhất giữa tiêu chí, chỉ số đánh giá và phương pháp xác định, qua đó nâng cao khả năng kiểm chứng, đối sánh và tự động hóa dữ liệu.
Thông tư cũng quy định rõ nguồn dữ liệu đánh giá, quy trình áp dụng chuẩn, cơ chế tự đánh giá hằng năm, công khai kết quả và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học. Bộ GDĐT có thể thực hiện hậu kiểm, đối sánh dữ liệu hoặc yêu cầu cung cấp minh chứng khi cần thiết.
Cách tiếp cận này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học xây dựng văn hóa tự đánh giá, tự cải tiến liên tục, khẳng định chất lượng và uy tín bằng kết quả hoạt động thực chất.
Thông tư thể hiện rõ định hướng lấy chuyển đổi số làm một trong những động lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Bên cạnh các yêu cầu về cơ sở vật chất truyền thống, Thông tư làm rõ các chỉ số về hệ thống học tập số, học liệu số, tài nguyên truy cập mở và mức độ khai thác, sử dụng của người học, giảng viên. Việc đưa các tiêu chí liên quan đến hệ thống học tập số, học liệu số và hạ tầng dữ liệu vào bộ chuẩn tối thiểu sẽ tạo động lực để các cơ sở giáo dục đại học đẩy mạnh đầu tư công nghệ, phát triển môi trường học tập linh hoạt, mở rộng cơ hội học tập suốt đời và nâng cao trải nghiệm học tập của người học trong bối cảnh chuyển đổi số.