Bài toán tăng trưởng hai con số: Từ 'sản xuất cho AI' đến 'tăng trưởng nhờ AI'

GD&TĐ - Cần chuyển từ sản xuất phục vụ làn sóng AI sang ứng dụng AI để nâng năng suất, sức cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Chỉ số phát triển GRDP 9 tháng năm 2026 của các thành phố trực thuộc Trung ương so với cùng kỳ (%). Ảnh: M.Tùng - Nguồn: Thống kê TPHCM.
Chỉ số phát triển GRDP 9 tháng năm 2026 của các thành phố trực thuộc Trung ương so với cùng kỳ (%). Ảnh: M.Tùng - Nguồn: Thống kê TPHCM.

Ngày 12/10, Trường Đại học Ngân hàng TPHCM tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Việt Nam và giải bài toán tăng trưởng hai con số trong năm 2026”.

Hội thảo tập trung phân tích diễn biến kinh tế thế giới và Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2026, nhận diện các động lực và điểm nghẽn tăng trưởng, đồng thời xây dựng kịch bản kinh tế vĩ mô cho ba tháng cuối năm trên các phương diện tăng trưởng, lạm phát, tiền tệ - tín dụng, ngân sách và nợ công.

Tăng trưởng cao trong chu kỳ phát triển mới

Tại hội thảo, báo cáo “Kinh tế vĩ mô Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026 và lộ trình tăng trưởng hai con số bền vững” của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Ngân hàng TPHCM được công bố, phân tích bức tranh kinh tế vĩ mô, những động lực và điểm nghẽn tăng trưởng, đồng thời đề xuất định hướng nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong thời gian tới.

Năm 2026 đánh dấu thời điểm quan trọng khi kinh tế Việt Nam bước vào chu kỳ phát triển mới, với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, nâng cao chất lượng và củng cố vị thế cạnh tranh dài hạn trong khu vực.

Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là chỉ tiêu về tốc độ tăng GDP mà còn đặt ra bài toán về khả năng huy động, phân bổ nguồn lực, sức chống chịu của hệ thống tài chính, chất lượng khu vực sản xuất, mức độ sẵn sàng của khu vực tư nhân và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.

Bối cảnh bên ngoài khiến bài toán tăng trưởng của Việt Nam thêm phức tạp. Kinh tế thế giới tiếp tục chịu tác động của các rủi ro địa chính trị, biến động giá năng lượng, xu hướng thắt chặt tài chính, phân mảnh thương mại, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh công nghệ giữa các nền kinh tế lớn.

Trong khi đó, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, năng lượng sạch và quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu mở ra nhiều cơ hội mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực hấp thụ công nghệ, chất lượng nhân lực, hạ tầng dữ liệu, thể chế điều phối và đổi mới sáng tạo.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP Việt Nam tăng 8,15% trong quý I, 8,81% trong quý II và 9,95% trong quý III năm 2026.

Tính chung 9 tháng, GDP tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy động lực tăng trưởng tiếp tục được củng cố qua từng quý, với mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2011 tới nay.

screenshot-2026-10-12-at-205638.png
Tăng trưởng 9 tháng đầu năm của Việt Nam (giai đoạn 2011-2026). Ảnh: Báo cáo của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Ngân hàng TPHCM, tổng hợp từ nguồn Cục Thống kê.

Hòa chung xu hướng đó, kinh tế TPHCM trong 9 tháng đầu năm 2026 cũng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Theo cơ quan thống kê, GRDP quý III tăng 9,86% (không tính dầu khí tăng 10,08%), đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,06% (không tính dầu khí tăng 9,16%).

Đây là mức tăng trưởng GRDP 9 tháng cao nhất của TPHCM khoảng 10 năm trở lại đây. Trong đó, khu vực dịch vụ tăng 9,95%, đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung; công nghiệp và xây dựng tăng 10,17%.

Kết quả này cho thấy các động lực tăng trưởng đang được củng cố, từ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ đến tiêu dùng và đầu tư.

gs.jpg
GS. TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM trình bày tại hội thảo. Ảnh: M.Tùng.

AI - động lực nâng cao năng suất của nền kinh tế

Một trong những nội dung đáng chú ý tại hội thảo là vấn đề phát triển kinh tế AI và cơ hội tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam được GS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM đề cập.

Theo ông, điều quan trọng không chỉ là sản xuất các sản phẩm phục vụ AI mà còn phải ứng dụng AI để nâng cao năng suất của toàn nền kinh tế.

Việt Nam đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng sản phẩm liên quan đến AI và công nghệ cao. Tuy nhiên, lợi thế hiện nay chủ yếu vẫn nằm ở sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu.

Theo GS. Nguyễn Đức Trung, bước chuyển quan trọng là đưa AI vào hoạt động thực chất của các ngành kinh tế, qua đó nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).

AI có thể thúc đẩy tăng trưởng năng suất trên năm phương diện: giảm chi phí, nâng cao hiệu quả công việc; tăng cường năng lực con người; đổi mới thể chế và quản trị; thúc đẩy tích hợp công nghệ, tự động hóa; thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới gắn với công nghệ cao.

Khi được tích hợp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý, AI không chỉ giúp tiết kiệm nguồn lực mà còn góp phần đổi mới quy trình, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chẳng hạn, ngân hàng có thể ứng dụng AI để chấm điểm tín dụng chính xác hơn; nhà máy sử dụng công nghệ này để dự báo lỗi, tối ưu hóa sản xuất; doanh nghiệp logistics tối ưu tuyến đường.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể ứng dụng AI trong thiết kế, bán hàng, nghiên cứu thị trường và quản trị; ngành nông nghiệp sử dụng công nghệ này để dự báo sâu bệnh, trong khi cơ quan nhà nước có thể ứng dụng AI nhằm giảm chi phí hành chính.

Các nhà khoa học tham dự hội thảo, từ trái sang: GS. TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Kinh tế Quốc dân; GS. TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM; ông Nguyễn Xuân Thành, Chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam; GS. TS. Lê Quốc Hội, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công (Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: M.Tùng.

Các nhà khoa học tham dự hội thảo, từ trái sang: GS. TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Kinh tế Quốc dân; GS. TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM; ông Nguyễn Xuân Thành, Chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam; GS. TS. Lê Quốc Hội, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công (Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: M.Tùng.

Như vậy, AI không chỉ bổ sung vốn hay thiết bị công nghệ mà còn cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực, góp phần nâng cao năng suất tổng hợp của nền kinh tế.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, Việt Nam cần mở rộng ứng dụng AI ra ngoài các doanh nghiệp lớn và khu vực FDI, hướng đến đông đảo doanh nghiệp trong các lĩnh vực thương mại, tài chính, logistics, du lịch, giáo dục và dịch vụ chuyên môn.

Cùng với phát triển hạ tầng công nghệ, Việt Nam cần xây dựng dữ liệu dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp tái thiết kế quy trình và phát triển thị trường dịch vụ AI trong nước. Đây là hướng đi giúp Việt Nam chuyển từ lợi thế sản xuất cho AI sang khai thác AI như một động lực nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng.

Bổ sung góc nhìn về cơ hội từ AI, GS. Lê Quốc Hội, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công (Đại học Kinh tế Quốc dân), cho biết ông ấn tượng với thông điệp chuyển từ “sản xuất AI cho AI” sang “tăng trưởng nhờ AI”.

Theo ông, Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc sản xuất hàng hóa phục vụ làn sóng đầu tư AI toàn cầu, qua đó thúc đẩy đầu tư và sản xuất. Tuy nhiên, lợi ích này phụ thuộc lớn vào chu kỳ công nghệ thế giới. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển dịch sang ứng dụng AI để tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn, nâng cao năng suất và tạo việc làm.

gs1.jpg
GS. TS. Lê Quốc Hội trao đổi tại hội thảo. Ảnh: M.Tùng.

Cơ cấu lại nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng và tỷ giá

Bên cạnh việc khai thác AI để nâng cao năng suất, bài toán tăng trưởng hai con số còn đòi hỏi Việt Nam giải quyết những điểm nghẽn về cơ cấu kinh tế và phân bổ nguồn lực.

Theo ông Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Phát triển Công nghiệp Tân Thuận (TPHCM), có ba vấn đề lớn cần tập trung xử lý, gồm cơ cấu kinh tế, chính sách tín dụng và tỷ giá.

Thứ nhất, cần xem xét lại cơ cấu kinh tế và phân bổ nguồn lực. Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhưng tăng trưởng còn thấp hơn mức bình quân của nền kinh tế.

Theo ông Tuấn, chúng ta hiện chưa khai thác tương xứng tiềm năng của những ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như giáo dục, y tế kỹ thuật cao, dù có nguồn nhân lực tốt.

Cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất và định hướng đầu tư cho các lĩnh vực này chưa đáp ứng yêu cầu; việc ứng dụng AI cũng chưa có định hướng rõ ràng.

Trong khi đó, nguồn lực đầu tư công và tín dụng vẫn tập trung nhiều vào các dự án lớn, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn khi tiếp cận vốn.

Những hạn chế này góp phần khiến công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỷ lệ nội địa hóa thấp và nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI.

Vì vậy, ông Tuấn cho rằng cần cơ cấu lại nguồn lực, ưu tiên những ngành giàu tiềm năng, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với chuỗi sản xuất.

11.jpg
Ông Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Phát triển Công nghiệp Tân Thuận (TPHCM) thảo luận tại hội thảo. Ảnh: M.Tùng.

Thứ hai, cần điều chỉnh chính sách tín dụng để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Lãi suất cao và khả năng tiếp cận vốn hạn chế khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp trở ngại trong đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất.

Ông cho rằng cần xây dựng cơ chế hỗ trợ tín dụng phù hợp, trong đó có thể ứng dụng AI để đánh giá mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp.

Thứ ba, áp lực tỷ giá và nguồn cung ngoại hối cũng là vấn đề cần giải quyết.

Nhập khẩu tăng, nhu cầu ngoại hối lớn, trong khi dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có xu hướng rút ra, tạo thêm sức ép lên tỷ giá.

Do đó, cần có chính sách đủ sức cạnh tranh để thu hút dòng vốn quốc tế, góp phần ổn định tỷ giá và bảo đảm tăng trưởng dài hạn.

Phối hợp chính sách, tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn

Từ những điểm nghẽn cụ thể của nền kinh tế, các chuyên gia tại hội thảo tiếp tục thảo luận về cách hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao gắn với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô.

Các ý kiến nhấn mạnh sự cần thiết phải phối hợp linh hoạt, nhất quán giữa chính sách tài khóa và tiền tệ; đẩy nhanh đầu tư công đi đôi với nâng cao hiệu quả phân bổ vốn; duy trì ổn định tỷ giá, thanh khoản hệ thống và kỷ luật tài khóa.

Cùng với đó, Việt Nam cần củng cố sức cầu trong nước, tận dụng cơ hội từ sự phục hồi của thương mại, dòng vốn FDI và chuỗi cung ứng công nghệ, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu trước những cú sốc bên ngoài.

Chỉ số phát triển GRDP quý III năm 2026 của 34 tỉnh/thành. Nguồn: Thống kê các tỉnh, thành.

Chỉ số phát triển GRDP quý III năm 2026 của 34 tỉnh/thành. Nguồn: Thống kê các tỉnh, thành.

Không chỉ tập trung vào các giải pháp trước mắt, hội thảo còn mở rộng thảo luận về những nền tảng dài hạn của mô hình tăng trưởng mới.

Trong đó, đầu tư phát triển công nghệ lõi chiến lược được xác định là nền tảng, năng lực hấp thụ công nghệ là cầu nối, còn đổi mới sáng tạo là điều kiện để nâng cao năng suất trong dài hạn.

Kết quả hội thảo sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học cho công tác hoạch định chính sách, đồng thời hỗ trợ ngân hàng và doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển phù hợp trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ ngày càng mạnh mẽ.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ