Ngày 1/10, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026 tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (TPHCM).
Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) trình bày báo cáo kết quả năm học 2025-2026 và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027 của khối giáo dục đại học.
Giáo dục đại học: 2,78 triệu người học
Đáng chú ý, báo cáo cho thấy bức tranh giáo dục đại học Việt Nam hiện nay với số lượng cơ sở giáo dục đại học do các bộ, ngành, địa phương làm cơ quan chủ quản khá nhiều.
Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, hiện các cơ sở giáo dục đại học có 2,78 triệu người học. Trong đó, 2,53 triệu sinh viên bậc đại học, 140.000 học viên thạc sĩ và 16.200 nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Trong tổng số 226 cơ sở giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT quản lý nhiều cơ sở giáo dục đại học trực thuộc nhất, với 41 đơn vị. Tiếp theo đó, UBND tỉnh, thành phố hiện quản lý 26 trường đại học.
Trong số các bộ, ngành khác, Bộ Quốc phòng có 19 trường; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý 13 trường; Bộ Y tế 11 trường; Bộ Công Thương 10 trường; Bộ Xây dựng 8 trường...
Một số bộ hiện quản lý 1 cơ sở giáo dục đại học như Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Trước đó, Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch 06 về thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 3, tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Theo Kế hoạch 06, các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ được sắp xếp, tổ chức lại theo hướng chuyển các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ GD&ĐT hoặc địa phương quản lý; sáp nhập, hợp nhất các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ những cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù.
Mục tiêu là giảm tối thiểu 20% số đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027.
Thí sinh chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành STEM
Theo báo cáo, tuyển sinh năm 2026 tiếp tục ghi nhận xu hướng dịch chuyển đáng chú ý sang các ngành STEM. Đến ngày 20/8/2026, có hơn 633.000 thí sinh xác nhận nhập học, trong đó 212.601 thí sinh thuộc nhóm STEM, chiếm khoảng 33,6%.
Các ngành thuộc phạm vi Nghị định 179/2026/NĐ-CP có 121.072 thí sinh xác nhận nhập học, gồm 11.363 thí sinh các ngành khoa học cơ bản và 109.709 thí sinh thuộc các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược.
Số người học được nhận học bổng là 21.309 người đối với khóa tuyển sinh năm 2025 và 22.909 người đối với khóa tuyển sinh năm 2026.
Tân sinh viên khóa 2026 Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM). Ảnh: NTCC.
So với năm 2025, số lượt ngành và số thí sinh trúng tuyển vào nhóm STEM đều tăng. Năm 2026, nhóm này có 2.319 lượt ngành, tăng 299 lượt, tương ứng 14,8%; số thí sinh trúng tuyển đạt 241.929, tăng 4.104 thí sinh, tương ứng 1,7%, tại 208 cơ sở đào tạo.
Tuy nhiên, sự gia tăng không diễn ra đồng đều giữa các lĩnh vực.
Trong nhóm STEM, máy tính và công nghệ thông tin giảm số thí sinh dù số lượt ngành tăng, trong khi các nhóm Công nghệ kỹ thuật, Kỹ thuật và Kiến trúc - xây dựng đều tăng. Đây cũng là những biến động cần được xem xét khi đánh giá xu hướng tuyển sinh, đồng thời tách biệt với sự thay đổi về danh mục ngành, chương trình đào tạo.
Đáng chú ý, các lĩnh vực xây dựng, kỹ thuật then chốt và khoa học cơ bản là những nhóm tăng nhanh trong phạm vi chính sách học bổng. Riêng khoa học cơ bản tăng 37,1% về số lượt ngành và 26,1% về số thí sinh trúng tuyển.
Một số nhóm ngành kỹ thuật cũng ghi nhận sự gia tăng rõ ở các phân khúc điểm cao. Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật có số thí sinh trúng tuyển ở các lượt ngành từ 25 điểm trở lên tăng từ 2.997 lên 3.497; ở ngưỡng từ 22,5 điểm trở lên tăng từ 6.324 lên 7.208.
Với nhóm Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông, số thí sinh ở phân khúc từ 25 điểm trở lên tăng từ 3.900 lên 3.950; ở ngưỡng từ 22,5 điểm trở lên tăng từ 6.744 lên 7.278.
Nhóm Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường có số thí sinh ở phân khúc từ 25 điểm trở lên tăng từ 313 lên 1.270. Trong khi đó, nhóm Xây dựng lần đầu ghi nhận 410 thí sinh ở phân khúc này.
Không chỉ STEM, các nhóm ngành khác cũng có những chuyển động đáng chú ý trong tuyển sinh năm 2026.
Nhóm Sư phạm - Giáo viên có 513 lượt ngành, tăng 38 lượt, tương ứng 8%, so với năm 2025. Số thí sinh trúng tuyển đạt 44.623, tăng 5.688 người, tương ứng 14,6%, tại 77 cơ sở đào tạo.
Nhóm Y dược - Sức khỏe có 338 lượt ngành, tăng 15 lượt, tương ứng 4,6%. Tuy nhiên, số thí sinh trúng tuyển giảm 191 người, còn 43.991, tương ứng giảm 0,4%, tại 76 cơ sở đào tạo.
Với nhóm Luật, số lượt ngành tăng 13, lên 212 lượt, tương ứng 6,5%. Ngược lại, số thí sinh trúng tuyển giảm 7.595 người, tương ứng 23,7%, còn 24.483 thí sinh, tại 113 cơ sở đào tạo.
Nhóm Quản lý - Kinh tế có 1.294 lượt ngành, tăng 155 lượt, tương ứng 13,6%. Số thí sinh trúng tuyển đạt 166.629, tăng 2.549 người, tương ứng 1,6%, tại 189 cơ sở đào tạo.
Nhóm Nông - Lâm - Thủy sản có 170 lượt ngành, tăng 5 lượt, tương ứng 3%; số thí sinh trúng tuyển đạt 10.475, tăng 258 người, tương ứng 2,5%, tại 46 cơ sở đào tạo.
Trong khi đó, nhóm Du lịch - Dịch vụ - Vận tải có 384 lượt ngành, tăng 43 lượt, tương ứng 12,6%. Tuy nhiên, số thí sinh trúng tuyển giảm 1.669 người, tương ứng 3,4%, còn 47.482 thí sinh tại 139 cơ sở đào tạo.
Tỷ lệ giảng viên tiến sĩ tiếp tục được nâng cao
Đội ngũ giảng viên tiếp tục được bổ sung hằng năm, trong đó tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên tăng rõ rệt.
Tính đến ngày 31/7/2026, số giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên đạt 92.275 người, chiếm 39% tổng số giảng viên, tăng đáng kể so với mức 31,7% năm 2022.
Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, cơ chế tự chủ tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học chủ động tuyển dụng, bồi dưỡng giảng viên có trình độ tiến sĩ phù hợp với nhu cầu đào tạo.
Việc xác định quy mô tuyển sinh theo Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT được gắn với số lượng, trình độ giảng viên và các điều kiện bảo đảm chất lượng, qua đó tạo cơ sở cho việc phát triển đội ngũ.